Nông dân văn minh
LTS: Sau Hội nghị Trung ương 5 khoá XIII, Nghị quyết về "Nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045" được xem là một điểm nhấn lớn. Với mục tiêu: Nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh, tập câu hỏi được đặt ra là khá sâu và rộng khi nhìn thẳng vào thực tế đời sống nông dân hôm nay.
Sòng phẳng với nông dân
Đuổi theo chương trình Nông thôn mới, nhiều xã trong cả nước còng lưng gánh nợ. Nhiều xã khác, trông vào tiền… bán đất công để theo đuổi chương trình mục tiêu quốc gia.
Bạn hãy nhắm mắt vào và tưởng tượng mình đang đi xe máy xuyên qua một ngôi làng ven sông Hồng. Bên trái bạn là một cánh đồng lúa mênh mông đang vụ chín. Phía trước là một con đường nhỏ, trải bê tông mượt. Một hai quán tạp hóa, một quầy thịt lợn, một xưởng làm nhôm hay gỗ nhỏ phục vụ dân làng. Bên phải bạn là trụ sở ủy ban xã, một khối nhà hai tầng màu vàng có sân rộng. Ủy ban mới xây, những cây bóng mát trong sân còn chưa kịp lớn.
Bạn sẽ nhìn thấy gì nữa? Nhiều khả năng bạn sẽ thấy một cái chợ. Những kiosk có cửa xếp màu xanh đóng im lìm. Những dãy mái tôn và nền tôn xi măng đã xỉn màu. Cỏ hoang đã mọc từ các kẽ nứt trong sân. Bạn sẽ nhìn thấy một cái chợ bỏ hoang. Không quá khó để tưởng tượng. Cho dù đó là Hòa Bình, Vĩnh Phúc hay Phú Thọ. Đó là một cái chợ có suất đầu tư trên dưới 10 tỷ đồng, và công năng của nó hoàn toàn là để đạt tiêu chí Nông thôn mới - vì người dân vùng này ngay từ đầu chẳng cần đến một cái chợ đầu mối kiên cố. Cách cái chợ ấy không xa, bạn nhìn thấy sạp bán hoa quả của người làng. Chị chủ hàng ngồi gà gật trên một cái ghế gỗ, cạnh chiếc bàn phủ hờ tấm vải, mà trên đó, mấy chùm nhãn và mấy quả quýt đã xỉn màu. Không có mấy khách qua lại con đường này.
Chương trình Nông thôn mới chỉ là một ví dụ cho sự lẫn lộn giữa mục tiêu nâng cao chất lượng đời sống người dân với mục tiêu chính trị của bản thân lãnh đạo.
Hiện không có thống kê chính thức về tổng số xã đang nợ nần vì theo đuổi mục tiêu Nông thôn mới. Trong chiến dịch cấp tập khắp miền đất nước này, chính quyền xây nhà văn hóa, hội trường, nhà thể thao, kiên cố hóa chợ, trạm y tế,… tạo thành một thứ khái niệm đã quen thuộc gọi là "bộ mặt khang trang". Tuy nhiên, không có cách nào thống kê được hiệu quả sử dụng của những hạ tầng "khang trang" này. Các phản ánh về việc những nhà văn hóa, nhà thi đấu hay thậm chí là trạm y tế được xây lên rồi không sử dụng có thể tìm thấy ở nhiều nơi.
Bản thân chương trình Nông thôn mới có những mục tiêu tốt đẹp. Nếu bạn đọc quyết định chính thức của Thủ tướng Chính phủ - tức là cái gốc của chương trình - bạn sẽ chỉ nhìn thấy các mục tiêu hướng tới chất lượng sống của người dân. Mục tiêu nhấn mạnh rằng các nỗ lực của chương trình phải "đi vào chiều sâu, hiệu quả, bền vững".
Nhiều nơi, nó chỉ giải quyết được vấn đề "bộ mặt". Cái gọi là "đi vào chiều sâu", tức là thay đổi bản chất năng lực kinh tế và nâng cao đời sống vật chất-tinh thần của người dân, trở thành chuyện xa xỉ. Nếu mà "bộ mặt" thực sự phản ánh "chiều sâu" thì chắc người ta đã không nợ vì xây những công trình bỏ hoang.
Trong một kịch bản lý tưởng, người dân giàu có, ngân sách có nguồn thu, người dân có đối ứng, và cái chợ, cái nhà thi đấu trở thành nơi phản ánh sự đi lên ấy. Trong một kịch bản mang màu sắc "thi đua", người ta bỗng thấy thấp thoáng hình bóng một thanh niên "sống ảo", vay nợ để mua những thứ hình thức, điện thoại, quần áo, tỏ vẻ ta đây giàu có trên mạng xã hội - nhưng thực chất thì rỗng.
Kịch bản màu sắc thi đua này là kết quả của nhiều cấp, nhiều ngành. Từ mục tiêu tốt đẹp của văn bản gốc, vốn đề cao sắc thái "tùy thuộc vào điều kiện kinh tế địa phương", người ta đã phiên dịch thẳng nó thành "bộ mặt khang trang" với vốn đầu tư tiền tỷ.
Ở rất nhiều bài báo, bạn sẽ bắt gặp hình ảnh người nông dân chậm tiến - những người cần nâng cao năng lực và trách nhiệm. Họ không thể giữ lời hứa, cũng không thể quy chuẩn hóa chuỗi giá trị của mình, làm ra hàng hóa kém chất lượng và đáng ngờ về độ an toàn. Đó có thể là một hiện thực ở nhiều nơi. Nhưng trước khi hỏi rằng làm sao để người nông dân cải thiện năng lực, cần hỏi rằng những người có trách nhiệm đã sòng phẳng trong cuộc hỗ trợ nông dân chưa.
Có bao nhiêu phần trong những chương trình nâng cao đời sống của người nông dân thực chất là nâng cao vị thế chính trị của những người ban hành ra nó?
Chuyện người nông dân từ chối chính sách hỗ trợ bây giờ không phải hiếm: đôi lúc họ tuyên bố thẳng rằng họ không cần. Ngày trước, một cụ bà xin trả lại sổ hộ nghèo đã trở thành hiện tượng, khắp báo đài nhắc tới. Nhưng gần đây, có những xã như ở Hướng Lập, Hướng Hóa, Quảng Trị, một năm có tới 3 hộ xin trả sổ hộ nghèo. Khi được hỏi, dân Hướng Lập đưa ra bài toán rất cụ thể: họ không đến mức phải xin trợ cấp lương thực, cứu đói. Còn chính sách ưu đãi vay vốn dành cho hộ nghèo, họ nghĩ mãi cũng không biết vay làm gì? Thời tiết thì khắc nghiệt, đường sá không thuận tiện, giá nông sản thì bấp bênh, họ cũng chẳng mạo hiểm đầu tư làm gì. Đầu tư xong có khi tay trắng lại làm nên đống nợ.
Trong câu chuyện đó, người ta nhìn thấy tư duy phản biện 2 chiều. Không phải cứ cho vay vốn là quý lắm rồi. Dân cũng chẳng cần những chính sách "đổ đống" kiểu ấy. Nếu không phục vụ cho một bài toán cụ thể và thiết thực nào để cải thiện chất lượng sống cho tương lai, thì không phải cứ đem ngân sách ra là dân đưa hai tay đỡ lấy.
Sòng phẳng với nông dân, nghĩa là nhận thức được từ góc độ ban hành chính sách và quy hoạch, rằng không phải người nông dân yếu thế thì cho cái gì cũng đúng, cái gì cũng quý. Có những cái chỉ phục vụ cho "bộ mặt khang trang" của những người tiêu ngân sách. Hệ thống chính sách hỗ trợ thiết thực với cuộc sống của người nông dân, cần những điều chỉnh vi mô và cụ thể với từng vùng. Và điều đó, có lẽ cần tâm huyết của từng lãnh đạo địa phương. Xa xỉ quá không?
Đức Hoàng
Nhất nông, nhì sĩ
"Nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông nhất nông nhì sĩ". Câu tục ngữ ấy có lẽ không ai trong chúng ta không từng đọc qua ít nhất 1 lần. Và trong bối cảnh toàn cầu hôm nay, tự dưng câu ấy bỗng trở thành chân lý khi mà cuộc khủng hoảng lương thực đang trở nên trầm trọng hơn do tác nhân từ rất nhiều chiều kích.
Cùng lúc, kết thúc hội nghị Trung ương 5 khoá XIII và Nghị quyết về "Nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045" đang trở thành trọng tâm thực sự. Và ở phiên chất vấn trước Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Minh Hoan cũng khẳng định mục tiêu hướng đến việc hữu cơ hóa nền nông nghiệp Việt Nam nhằm định vị thương hiệu nông sản Việt. Tất cả toàn là các quyết sách hợp thời đại, cấp tiến cả. Nhưng đó là các hoạch định của "kẻ sĩ". Thực hành nó vẫn phải là người nông dân. Có đặt người nông dân vào trọng tâm hay không sẽ là yếu tố tiên quyết để những dự tính to tát kia thành hay bại.
Người nông dân sẽ đón nhận những thông tin được thảo luận ở nghị trường liên quan đến nông nghiệp như thế nào? Câu hỏi này phải là một câu hỏi cơ bản nhất, ở mọi phiên họp, chất vấn v.v và v.v. Nếu người nông dân quan tâm sâu sắc đến từng chuyển động thượng tầng về chính sách, điều đó đồng nghĩa với việc đã tồn tại mội sợi dây gắn kết cực chặt chẽ giữa hoạch định sách lược và thực hành thiết thực. Ngược lại, nếu người nông dân đón nhận với một thái độ "có cũng được, không có cũng vẫn thế" thì chúng ta cần phải thiết lập được sợi dây gắn kết kia để không lãng phí chất xám đã nhọc công kiến tạo ra các ý tưởng, chương trình quốc gia.
Chưa lúc nào chúng ta cảm nhận được tầm quan trọng của lương thực, thực phẩm như ở thời kỳ phong toả vì đại dịch COVID vừa rồi. Có thể nói, đó chính là khoảng thời gian thay đổi nhận thức rất nhiều người. Không ít người đã hiểu ra rằng đồng tiền hóa ra không phải tối quan trọng như họ từng nghĩ. Và sau đại dịch, xã hội cũng dịch chuyển theo một cách rất khác: thận trọng hơn, an toàn hơn, đậm tính phòng thủ hơn.
Ông Mười, nhà ở Bình Chánh, vốn dĩ là thợ đá mỹ nghệ. Mất việc vì dịch COVID, ông và gia đình lâm vào hoàn cảnh khó khăn. Vợ ông đi giúp việc cho một vài gia đình quanh quanh khu vực quận 8, Bình Chánh, Nhà Bè và ngẫu nhiên, chuyện gia đình bà được một chủ nhà quan tâm. Chủ nhà sau khi hỏi han, tìm hiểu và được biết ông Mười "có tay nuôi vịt" đã đầu tư xuồng giống cho ông nuôi một đàn nhỏ hơn trăm con. Vậy là cứ đều đặn mỗi ngày hai cữ, ông Mười lùa vịt quanh khu vực Bình Chánh, quận 8, đúng nghĩa cho ăn thả tự nhiên. Sau mấy tháng, đến vụ thu hoạch, đúng như thỏa thuận, ông Mười lấy nửa đàn, nhà chủ đầu tư giống lấy nửa đàn. Thu nhập dù cũng chẳng đáng là bao nhưng nó cũng đủ đắp đổi tạm thời. Tất nhiên, trong trường hợp này, nhà chủ thuộc diện nhà đầu tư không quan tâm đến lợi nhuận. Số vịt họ nhận về, để biếu và cấp đông dùng dần là chính. Cơ bản, họ tin vào sản phẩm mà mình đầu tư ở tính "sạch", hay nôm na là "tính hữu cơ" như cách nói thời thượng.
Câu chuyện kể trên cho thấy rất rõ người nông dân cũng sẽ không khác gì ông Mười cả. Cái họ cần là mưu sinh thiết thực trước mắt. Họ cần no, đủ mặc, đủ trang trải cho con cái và nếu dôi dư thì cuối năm tạm gọi có một cái Tết là đủ yêu cầu cơ bản ban đầu. Và nông dân sẽ đi tìm phương cách để đạt cái tối thiểu cơ bản ấy trước đã. Nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh đều là những khái niệm vĩ mô mà trước khi say mê về chúng, người nông dân phải được đảm bảo đời sống cái đã. Chưa no, chưa ấm, còn dằn vặt với âu lo thường nhật thì ngay bản thân trí thức cũng khó có thể nghĩ ra được sáng kiến gì hay ho chứ đừng nói đến người nông dân với đầy rẫy những việc nhỏ bé như giống, phân, nước, công… Tạo ra một lực lượng nông dân văn minh, đòi hỏi đầu tiên phải là những người hoạch định văn minh cùng cách nhìn văn minh về thực trạng của nông dân hôm nay.
Trong phiên chất vấn trước Quốc hội của Bộ trưởng Bộ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Minh Hoan, đa số câu hỏi hướng đến ông đều xoay quanh chuyện giá phân bón, phân bón giả. Trong khi đó, trọng tâm hướng tới đang là "hữu cơ hóa nông nghiệp". Hỏi và trọng tâm có độ lệch pha như vậy đã là một ví dụ sinh động để chúng ta hiểu rằng điều người nông dân cần thiết thực hiện nay khác với viễn cảnh mà các nhà hoạch định đang đặt ra. Các đại biểu quốc hội đặt ra câu hỏi cũng chỉ là tiếng nói thay cho người nông dân. Họ vẫn quan tâm đến thuốc sâu, phân bón thì chúng ta khó có thể thuyết phục họ về một nền nông nghiệp hữu cơ khi mà họ không nhìn thấy ở đó những trợ giá trực tiếp từ ngân sách đủ để họ dũng cảm lựa chọn một con đường khác.
Nông nghiệp hiện đại là câu chuyện đấu tranh giữa chất lượng và sản lượng. Làm nông nghiệp hướng tới chất lượng thì chắc chắn sẽ tụt giảm sản lượng rất lớn và ngược lại. Rồi vượt trên câu chuyện ấy là gì? Là thị trường, là xác định nhu cầu, là các quy ước chất lượng vùng sản phẩm truyền thống, là chỉ dẫn địa lý v.v và v.v để từ đó định vị thương hiệu. Một mình người nông dân không thể làm tất cả. Người nông dân cần các trí thức tham gia vào với họ, suy nghĩ bằng tâm thế của họ, đặt họ vào trọng tâm và hành động với hình dung mình đang sống đời sống của người nông dân chứ không phải một cổ cồn sạch sẽ thơm tho trong một phòng khách sang trọng giữa đô thị lớn, phồn hoa và đông đúc.
Muốn tạo ra tầng lớp nông dân văn minh, hãy trở lại với quan điểm "nhất nông nhì sĩ" khi nói về nông nghiệp. Chỉ khi nào tất cả các thể loại "sĩ" đều phục vụ cho sự phát triển của nhà nông, khi ấy mới có thể có được nông thôn hiện đại, nông dân văn minh…
Hà Quang Minh
Nông dân 1.0
Dường như mọi ưu tiên cải tiến công việc và điều kiện làm việc của toàn xã hội đang đồng loạt khước từ một chủ thể: những người nông dân.
Bố vợ tôi, năm nay đã ngoài 60 tuổi, chỉ mới khoảng hơn một năm trước thôi, vẫn đeo sau lưng một bình xịt thuốc trừ sâu, đi phun hết gần mười mẫu ruộng (1 mẫu miền Tây tương đương 10 ha). Tất cả "đồ bảo hộ" ông có là một đôi ủng sờn tuổi đời 20 năm, và một chiếc khẩu trang vải cứ xong buổi xịt giặt cái là xong. Mỗi lần về nhà, ông đều khó thở đến tận đêm. Một năm nay, do yếu đi, ông nghỉ hẳn đi phun thuốc, chỉ thuê người trẻ hơn làm, mất vài trăm ngàn một ngày.
Ông là một trong những người hiếm hoi vẫn bám trụ với đồng ruộng, cũng vì nhà có nhiều đất, làm còn có lãi. Những người trẻ hơn đã bỏ xứ đi làm công nhân ở các khu công nghiệp tại Bình Dương và Đồng Nai. Với chỉ khoảng 1-2 mẫu ruộng, một người làm nông ở đây chỉ kiếm được khoảng 20-40 triệu một… năm hai vụ, tức thu nhập chỉ khoảng 1,6 - 3,3 triệu/tháng. Số tiền này chỉ bằng một bữa ăn hơi sang một tí tại đô thị, và nó cũng không đến tay đúng hạn: phải đến khi lúa được bán cho thương lái, người nông dân mới nhận được tiền.
Bố vợ tôi vốn là một quân nhân đi học làm ruộng. Trường lớp của ông là kinh nghiệm từ các cụ và hàng xóm láng giềng, từ cách thức canh tác, cho đến ứng phó với sâu bệnh. Vài năm gần đây có thêm mấy kênh Youtube. Thi thoảng bên khuyến nông của ấp "mách nước" cho mấy giống lúa mới, có khả năng được giá sắp tới. "Phòng thí nghiệm" của ông là chính cánh đồng bạt ngàn sau nhà, mà mỗi sai lầm khi làm phép thử có thể phải trả giá rất đắt.
Và sau khi gặt lúa chất đầy sân, ông chỉ có một lựa chọn: chờ thương lái vào… ép giá. Lúa đã đóng bao như cá nằm trên thớt, và người nông dân gần như không có quyền trả giá. Thương lái sẽ chỉ ghé vào một lần, đi qua các nhà chất đầy lúa, phàn nàn về lúa khô, lép, và kết thúc với một chiến thắng tuyệt đối. Trong chuỗi cung ứng từ thương lái tới nhà máy và đến tay người tiêu dùng, nông dân, những người trực tiếp trồng lúa, là nhóm yếu thế.
Tháng Tư năm nay, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học đề xuất giải pháp chính sách khuyến khích nông dân sử dụng sản xuất, có chỉ ra một số vấn đề của canh tác nông nghiệp hiện nay: đất bị bỏ hoang, sử dụng kém hiệu quả; thiếu lao động chất lượng cao trong nông nghiệp. Như rất nhiều hội thảo nông nghiệp thường thấy khác, tất cả đều nỗ lực tìm kiếm câu trả lời ở người nông dân, rằng nhiều tỉnh nông dân chưa khai thác tốt đất, hoặc bỏ ruộng, hoặc không chú trọng tái tạo đất. Tức là thế giới đang đi lên 4.0 đến nơi rồi, mà người nông dân vẫn đang giậm chân ở trạng thái 1.0.
Nhưng nếu bạn có thể nhìn một người nông dân như tôi nhìn bố vợ vào những lúc bối rối và ngặt nghèo nhất của họ, như là cảnh một ông già ngoài 60 tuổi đeo một bình thuốc sâu sau lưng và hoàn toàn đơn độc trong cuộc chiến với đất trời, bạn có thể sẽ phải phẫn nộ, rằng tại sao có những người vẫn phải làm việc trong điều kiện như thế. Bạn hẳn phải đem câu hỏi này đến cho tất cả những chuyên gia khoa học ở các hội thảo, những người hoạch định chính sách nông nghiệp, hay những người đã thiết kế chuỗi cung ứng bất bình đẳng hiện tại. Bạn không thể đòi hỏi thêm ở những người nông dân nữa.
Một nghiên cứu của Oxfam cho thấy rằng người nông dân chịu rủi ro 70-80% trong sản xuất nông nghiệp, nhưng họ chỉ được chia có 20% lợi nhuận. Chúng ta không coi trọng họ đúng nghĩa: toàn xã hội đang cố gắng ly nông, nhét mình trong những căn nhà ống chật chội ở đô thị, và vô thức coi rằng vị trí của một nông dân là thất bại về địa vị. Những người nông dân cô độc với công việc của mình, làm việc trong điều kiện độc hại và nặng nhọc, thiếu sự hỗ trợ về kiến thức lẫn định hướng sản xuất.
Họ tự mò mẫm trên cánh đồng của mình, trong im lặng. Một nhà báo như tôi có thể viết một bài kể những nỗi niềm về nghề của mình trên các kênh truyền thông ủng hộ mình (nhân ngày 21/6 đang đến gần chẳng hạn), nhưng một người nông dân 1.0 chẳng có kênh nào để nói về mình, ngoài nỗi vất vả mà từ lâu dường như đã bị khước từ nhận diện. Nông dân là phải vất vả, và chúng ta đang tránh nói về nỗi vất vả chất phác ấy. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang là những chủ đề ưa thích của truyền thông chủ lưu, và nếu có ai đó không theo kịp, thì dường như đó là lỗi của họ.
Bạn có thể làm tốt một nghề mà vốn dĩ không có trường lớp đào tạo bài bản (đặc biệt là phần thực hành); nhận rất ít sự hỗ trợ; xoay vòng vốn rất chậm; thu nhập thấp; điều kiện làm việc vất vả và độc hại; ít tiếng nói, và ít được xem trọng về địa vị? Những người mà chúng ta đang cố đòi hỏi họ tiến lên 4.0, thật ra vốn đã và đang là những siêu nhân rồi.
Phạm An

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045
Tri thức hóa nông dân, làm giàu từ nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới hiện đại