Tịch thu 37 con hổ nuôi: Không hợp lý cũng chẳng hợp tình
Một con hổ để sống tự nhiên trong rừng, cần ít nhất một diện tích rừng khoảng 50km2. Với 37 con hổ này, phải có khu rừng bảo tồn rộng hàng trăm kilômét vuông, mà bây giờ, Việt
Mấy ngày nay, dư luận nhân dân ở tỉnh Bình Dương và những người quan tâm đến thú nuôi rất xôn xao khi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) vừa có văn bản đề nghị Thủ tướng Chính phủ cho tịch thu 37 con hổ của ông Ngô Duy Tân, ông Huỳnh Phi Ngọc và ông Huỳnh Văn Phùng. Thật ra, số hổ hiện nay không phải là 37 con mà còn nhiều hơn thế vì hổ của ông Ngô Duy Tân mới đẻ thêm 4 con.
Quả thật, nếu cách đây hơn một năm, ông Tân và ông Ngọc không công bố cho bàn dân thiên hạ biết về những thành công trong việc nuôi hổ thì có lẽ Cục Kiểm lâm cũng chẳng biết. Và nếu như hai ông cứ lẳng lặng nuôi hổ cho lớn rồi đem... nấu cao thì chắc chắn cũng không thể nào có đàn hổ vô cùng quý giá như ngày hôm nay. Thành công của hai ông trong nuôi hổ, đặc biệt là nuôi hổ sinh sản đã được nhiều hãng thông tấn lớn như Reuteur, BBC đến ghi hình và công bố trên toàn thế giới...
Và nếu cách đây hơn 6 năm, nếu đồng chí Nguyễn Minh Đức, Bí thư Tỉnh ủy Bình Dương không mạnh dạn yêu cầu Chi cục Kiểm lâm tỉnh để cho ông Tân chăm sóc 5 con hổ đang ốm liệt thì bây giờ lấy đâu ra đàn hổ 23 con, trong đó 13 con là hổ đã trưởng thành nặng từ 200 đến 300kg.
Hơn nữa, trong suốt quá trình nuôi dưỡng, ông Ngô Duy Tân có báo cáo khá tường tận với Chi cục Kiểm lâm Bình Dương. Mỗi khi hổ đẻ, ông đều mời cán bộ kiểm lâm của Bình Dương đến chứng kiến và có biên bản ghi nhận. Như vậy là chỉ có 5 con hổ đầu tiên là không có nguồn gốc, còn 18 hổ sinh ra sau này, đều có giấy “đăng ký khai sinh” hợp pháp tại Chi cục Kiểm lâm Bình Dương.
Lại có chuyện thế này. Khi 5 chú hổ con được ông Tân cứu sống, nuôi khỏe mạnh và lớn như thổi thì cũng là khi ông gặp khó khăn về tài chính. Ông Tân đến báo cáo với Chi cục Kiểm lâm Bình Dương xin trả lại hổ cho kiểm lâm. Còn nếu được thì hỗ trợ ông một phần kinh phí nuôi dưỡng hổ. Nhưng lãnh đạo Chi cục thấy rõ rằng, nếu mang số hổ này về thì nuôi ở đâu? Và nuôi thế nào? Thế là họ động viên ông cố gắng, sau này nếu đẻ được thì rất tốt.
Giữa năm 2005, Ban Giám đốc vườn thú Hà Nội xin phép Cục Kiểm lâm để trao đổi một con hổ cái của vườn thú để lấy con hổ đực của ông Tân. Ông Phó Cục trưởng Lương Văn Thăng đã có Công văn số 697/KL-BTTN với nội dung: "Để bảo tồn và phát triển hổ trong điều kiện nuôi nhốt. Cục Kiểm lâm thống nhất với vườn thú Hà Nội về việc trao đổi các cá thể hổ giữa các cơ sở gây nuôi sinh sản hợp pháp nhằm tránh hiện tượng đồng huyết”.
Như vậy là lúc đó, Cục Kiểm lâm đã biết rõ mười mươi việc ông Tân nuôi hổ và cũng chẳng vặn vẹo rằng “hổ nuôi hợp pháp hay bất hợp pháp”. Hơn nữa, việc nuôi hổ của ông Tân, ông Ngọc đều được Chi cục Kiểm lâm Bình Dương báo cáo Cục Kiểm lâm nhưng không ai trả lời cả?
Thế mà bây giờ, Cục Kiểm lâm của Bộ NN&PTNT lại báo cáo lên rằng ông Tân nuôi... bất hợp pháp. Không có biện pháp xử lý ngay từ đầu, để người dân nuôi dưỡng từ lúc con hổ còn nhỏ, đến khi lớn, lại sinh nở đầy đàn, thì đòi “tịch thu” (?!). Quả là không còn gì để nói với những cán bộ có trách nhiệm của ngành kiểm lâm.
Có thể nói rằng, ông Tân và ông Ngọc đã chăm sóc những con hổ “không rõ nguồn gốc” và hầu hết đều trong tình trạng dở sống dở chết bằng tất cả tình thương yêu của mình đối với loài động vật đang trên đà tuyệt chủng không chỉ ở Việt Nam mà còn ở trên thế giới.
Vừa qua, nhiều tờ báo vui mừng đưa tin con hổ ở vườn thú Hà Nội mới đẻ được 4 con. Như vậy là sau bao nhiêu năm vất vả, vườn thú Hà Nội với đội ngũ cán bộ, nhân viên đầy kinh nghiệm mới nuôi được một con hổ đẻ, trong khi đó, ông Ngô Duy Tân đã nuôi được hổ đẻ đều... như chó, cách đây ba năm. Đó chẳng phải là một thành công ngoài sự tưởng tượng hay sao?
Lại cũng từ năm 2002, Công ty Bia Thái Bình Dương đã có đơn gửi Bộ NN&PTNT, Văn phòng CITES, Sở NN&PTNT tỉnh Bình Dương xin thành lập trại nuôi động vật hoang dã sinh sản, nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan du lịch đồng thời đầu tư nghiên cứu cho sinh sản để bảo tồn và phát triển các loại động vật như hổ, gấu, báo... Nhưng đơn gửi đi mà chẳng có ai trả lời.
Những đề xuất của Bộ NN&PTNT chắc chắn là dựa theo những báo cáo của Cục Kiểm lâm mà không đếm xỉa gì đến thực tế về quá trình nuôi dưỡng chăm sóc đàn hổ của các ông Tân, Ngọc, Phùng ở Bình Dương.
Pháp luật cấm săn bắn, buôn bán động vật hoang dã, đặc biệt là những loài thú đang nằm trong sách đỏ như hổ... Nhưng cũng không có điều khoản nào cấm nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo tồn thú hoang dã. Nghị định về Quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp quý hiếm được Chính phủ ban hành ngày 30/3/2006, tại mục 3 về Chính sách của Nhà nước về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm thì điều 3 ghi rõ: "Nhà nước khuyến khích, hỗ trợ, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đầu tư quản lý, bảo vệ và phát triển thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp quý hiếm”.
Vậy tại sao những người dân đã tự bỏ tiền ra nuôi dưỡng chăm sóc những con hổ do bọn săn trộm bắt được - mà nếu không có họ thì làm gì có đàn hổ như hôm nay - lại không được động viên, khuyến khích, và ngành kiểm lâm có trách nhiệm giúp đỡ họ chăm sóc, quản lý?
Không hiểu trước khi gửi văn bản đề xuất với Thủ tướng cho tịch thu đàn hổ kia thì Bộ NN&PTNT đã có nghiên cứu nào để khẳng định rằng, số hổ đó sẽ sống sót được khi thả vào rừng? Hơn nữa, một con hổ để sống tự nhiên trong rừng, cần ít nhất một diện tích rừng khoảng 50km2. Như vậy, với số hổ này, phải có khu rùng bảo tồn rộng hàng trăm kilômét vuông, mà bây giờ, Việt
Ai dám đảm bảo những con hổ lơ ngơ như “gà công nghiệp” quen ở chuồng trại sạch như ly như lau, quen ăn uống đầy đủ kia lại không tò mò đứng nhìn họng súng của những kẻ săn trộm đang đêm ngày tung hoành trên các cánh rừng Việt Nam?
Ai dám đảm bảo là những con hổ nặng hàng tạ này không hiên ngang dạo bước trên đường quốc lộ để “ngắm” xe ôtô chạy, như chúng vẫn thường thấy và “vui vẻ đùa giỡn” với con người?
Hơn nữa, đây là những con hổ đã quen ăn sẵn, khả năng săn mồi của chúng cơ bản đã mất hoàn toàn. Muốn phục hồi khả năng này, phải huấn luyện hàng năm và trong những điều kiện rất giống tự nhiên. Đó là điều chúng ta không có khả năng làm được. Còn nếu đưa vào Trung tâm Cứu hộ Động vật hoang dã, thì ai dám đảm bảo là chúng được chăm sóc tốt hơn hiện nay. Kinh phí ở đâu ra để mà nuôi đám hổ mà hàng ngày mỗi con xơi 8kg thịt bò loại 1 hoặc thịt gà... và chỉ riêng chuyện thay đổi khí hậu cũng đã đủ làm lũ hổ này "đi" rồi.
Rõ ràng, những đề xuất của Bộ NN&PTNT hoàn toàn không dựa trên một cơ sở khoa học nào và cũng chưa đúng cả về lý lẫn về tình. Người dân đã bỏ tiền ra nuôi dưỡng, chăm sóc, coi những con hổ quý hơn tiền bạc lại không được tạo điều kiện để họ chăm sóc tốt hơn, mà bị sổ toẹt bằng một quyết định “tịch thu”.
Chúng tôi đề nghị trước hết, Bộ NN&PTNT cũng như các cơ quan chức năng khác cần tổ chức một cuộc hội thảo và nên mời các nhà nghiên cứu động vật hoang dã không chỉ ở Việt Nam mà còn ở trên thế giới tới, để thảo luận giải đáp một vấn đề: Hổ nuôi nhốt không còn khả năng săn mồi có thể sống được trong môi trường tự nhiên hay không? Và nếu nuôi được thì cần có những điều kiện gì? Kinh phí ở đâu? Nếu kết hợp theo kiểu “Nhà nước và nhân dân cùng... bảo tồn loài hổ” thì có được không?
Nếu chưa giải đáp được những vấn đề đó mà tịch thu số hổ ở Bình Dương, đem thả vào rừng thì quả là một việc làm chỉ góp phần... đưa chúng thành... cao hổ cốt sớm mà thôi
