Tháng 7 ở nghĩa trang liệt sĩ Việt - Lào

Chủ Nhật, 24/07/2011, 19:36
Ngồi bên cạnh phần mộ các liệt sĩ, Nguyễn Kim Trung tâm sự với người đã khuất những câu chuyện về quê hương, đất nước, tình đồng đội, đồng chí. Chứng kiến cảnh anh thương binh tỷ mẩn dùng 2 cùi tay để thắp hương cho các liệt sĩ ai cũng nghẹn lòng.

Vượt hơn 100km từ TP Vinh theo QL7, chúng tôi tìm về nghĩa trang liệt sĩ Việt -Lào ở huyện Anh Sơn, Nghệ An. Thắp một nén nhang thành kính tưởng nhớ những người đã ngã xuống để dân tộc mãi trường tồn, lòng xúc động khôn nguôi.

Nghĩa trang Việt - Lào, nơi có hơn 10.000 người con ưu tú của đất Việt đang yên nghỉ là minh chứng hùng hồn nhất cho tình quốc tế cao cả của Việt Nam. Và có lẽ duy nhất trên trái đất này, tình cảm của 2 dân tộc Việt-Lào đã trở thành mẫu mực. Sự sẻ chia, tình keo sơn gắn bó của Việt - Lào mãi mãi bền chặt không chỉ bởi "núi liền núi, sông liền sông" mà ở mỗi bản, làng còn thấm đẫm máu, nước mắt và nụ cười của các chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam và bộ đội Pathét Lào.

Nơi yên nghỉ hơn 10 ngàn liệt sĩ

Với tình cảm uống nước nhớ nguồn, năm 1982, Đảng và Nhà nước quyết định đưa toàn bộ hài cốt liệt sĩ hy sinh ở nước bạn Lào về nước. Đến tháng 1/1983, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội quyết định chính thức xây dựng Nghĩa trang liệt sỹ Việt - Lào.

Nghĩa trang được xây dựng trên diện tích gần 7ha với kiến trúc nghiêm trang, tạo cảm giác linh thiêng, thành kính, gần gũi đối với phần mộ các liệt sĩ đang yên nghỉ. Toàn thể kiến trúc nghĩa trang được chia thành 10 hạng mục công trình với 19 khu mộ. Trong nghĩa trang được đắp hai bức phù điêu, mỗi bức cao gần 4m, dài 20m thể hiện hình ảnh của bộ đội tình nguyện Việt Nam và bộ đội Pathét Lào dũng cảm, hiên ngang, kề vai sát cánh chiến đấu và chiến thắng kẻ thù chung vì hòa bình, độc lập, thống nhất tổ quốc của 2 dân tộc anh em. Đó còn là hình ảnh những người mẹ, người vợ tiễn con, tiễn chồng ra trận với ánh mắt dõi theo trìu mến, thân thương. Trong khuôn viên nghĩa trang được xây dựng nhà tưởng niệm trung tâm có các gian thờ Bác Hồ và các liệt sĩ, để các đoàn khách và thân nhân liệt sĩ, du khách tham quan đến làm lễ dâng hương trước khi vào thắp hương cho các khu mộ.

Trong mỗi khu mộ được bố trí thành các lô, mỗi lô có một am thờ và lư thắp hương riêng. Khu A: Lô 1 có 69 phần mộ liệt sĩ chống Pháp (thời kỳ 1930-1931); từ lô 2 đến 10 là phần mộ các liệt sĩ chống Mỹ. Tổng khu A có 5.381 phần mộ liệt sĩ. Khu B: có 12 lô, với 5.219 phần mộ liệt sĩ. Ngoài hai khu trên, nghĩa trang còn có một lô tử sĩ với 11 phần mộ. Trong số hơn 10 ngàn liệt sĩ đang yên nghỉ ở nghĩa trang Việt-Lào chỉ có hơn 3 ngàn liệt sĩ xác định được tên tuổi, quê quán. Để đưa các liệt sĩ về đất mẹ, hơn 20 năm qua, các đội quy tập mộ liệt sĩ của Bộ Chỉ huy Quân sự các tỉnh thuộc Quân khu IV đã phải trèo đèo, lội suối đi tìm đồng đội khắp các bản, làng nước bạn Lào. Nhiều cán bộ, chiến sĩ đi quy tập mộ liệt sĩ đã ngã xuống trên đất bạn vì sốt rét, bệnh tật… Nghĩa trang Việt - Lào, nơi quy tập mộ của các chiến sĩ tình nguyện Việt Nam sang chiến đấu và hy sinh tại nước bạn Lào là nghĩa trang duy nhất của Việt Nam mang tên hai quốc gia, hai dân tộc.

Theo ông Trần Văn Hiền, Trưởng ban Quản lý nghĩa trang, trung bình mỗi năm có hơn 1 ngàn gia đình, thân nhân đến đây thắp hương viếng liệt sĩ. Hằng năm vào tối 26/7, Ban quản trang kết hợp với các ban, ngành, đoàn thể tổ chức lễ "Uống nước nhớ nguồn" để ghi nhớ công ơn những người đã khuất.

Hằng ngày để chăm sóc mộ phần của liệt sĩ, học sinh của 7 trường ở huyện Anh Sơn kết nghĩa với Ban quản lý nghĩa trang, thay phiên nhau đến quét dọn sạch sẽ khu mộ. Chính từ việc chăm sóc các phần mộ liệt sĩ ở nghĩa trang Việt-Lào, các em học sinh được giáo dục đạo lý uống nước nhớ nguồn, tình cảm thiêng liêng đối với người đã ngã xuống, lòng tự hào dân tộc. Tình cảm keo sơn, gắn bó thủy chung, sẵn sàng hy sinh vì nhiệm vụ cao cả của các liệt sĩ đã được Giáo sư Phan Ngọc thể hiện qua bài phú gồm 408 chữ khắc trên bia đá trong nghĩa trang Việt-Lào bằng 2 ngôn ngữ Việt - Lào. Trong đó có đoạn:

"Nhân dân Việt Nam
Hào kiệt giống nòi, hiên ngang đất tổ
Hoà bình, độc lập, lẽ sống muôn đời; dân chủ, tự do, ước mơ vạn thuở.
Gặp thời đen tối, hai nước Việt - Lào, ách nô lệ đọa đày; được Đảng sáng soi một cõi Đông Dương đường cứu nguy vạch rõ...
Máu hoà vào máu, Cánh Đồng Chum, Xiêng Khoảng, Thà Khẹt, ta cùng bạn hy sinh; xương lẫn với xương, Át-tô- pơ, Khăm Muộn, Viên Chăn, bạn cùng ta quyết tử.
Tình đoàn kết ấy dòng Cửu Long bao la, nghĩa thủy chung này dải Trường Sơn vững chãi...

Chuyện ghi ở chiều nghĩa trang

Thắp nén nhang cho đồng đội ở nghĩa trang liệt sĩ Việt-Lào, anh Nguyễn Kim Trung, thương binh 1/4, quê Hương Xuân, Hương Khê, Hà Tĩnh rớm nước mắt. Năm 1972, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, 2 anh em trai Nguyễn Kim Trung và Nguyễn Văn Quang lập tức lên đường. Nguyễn Kim Trung vào chiến đấu ở tuyến lửa Thành cổ Quảng Trị. Còn Nguyễn Văn Quang vào đơn vị đặc công chiến đấu ở chiến trường Thượng Lào.

 Vừa cưới vợ được đúng 1 ngày, Nguyễn Văn Quang nhận lệnh lập tức lên đường. Người lính trẻ đành phải xa mẹ già, vợ trẻ, hy sinh hạnh phúc riêng tư trong lứa tuổi 20. Chỉ sau 3 tháng, gia đình nhận được giấy báo tử Nguyễn Văn Quang. Còn ở chiến trường Thành cổ Quảng Trị, Nguyễn Kim Trung cũng bị thương cụt cả 2 tay và nhiều vết đạn ở chân.

Về lại quê nhà, mỗi dịp 27-7, anh thương binh Nguyễn Kim Trung lại vượt hàng trăm km đến nghĩa trang Việt-Lào thắp nén nhang cho người em của mình cùng các đồng đội. Ngồi bên cạnh phần mộ các liệt sĩ, Nguyễn Kim Trung tâm sự với người đã khuất những câu chuyện về quê hương, đất nước, tình đồng đội, đồng chí. Chứng kiến cảnh anh thương binh tỷ mẩn dùng 2 cùi tay để thắp hương cho các liệt sĩ ai cũng nghẹn lòng.

Chiều nghĩa trang, ánh nắng hè cuối ngày bắt đầu lịm tắt, nhưng giữa nghĩa trang hàng trăm người mẹ, người vợ… thân nhân các liệt sĩ vẫn ân cần ngồi bên phần mộ các liệt sĩ thầm thì câu chuyện đồng quê, làng nước như với những đứa con xa lâu ngày trở lại nhà. Chúng tôi hiểu mạch ngầm văn hoá của dân tộc vẫn luôn chảy không bao giờ ngừng nghỉ, và cái chết của các liệt sĩ đã trở thành bất tử trong mỗi người dân Việt

Dương Sông Lam
.
.
.