Tây Ninh: "Chẻ" vườn quốc gia để trồng cao su

Thứ Hai, 04/12/2006, 09:36

Lợi nhuận từ cây cao su mang lại quá cao khiến nhiều hộ có đất trong vùng dự án trồng rừng (lợi nhuận thấp) có nhiều hình thức từ lén lút đến công khai: trồng cao su bằng hạt, bằng hom, trồng vào ban đêm, trồng dưới tán cây mì…

Theo báo cáo của Vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát, đến năm 2004, diện tích đất lâm nghiệp đã bị bao chiếm sử dụng không đúng mục đích là 3.485 ha. Trong đó, gần 559 ha được trồng cây cao su, trên 720 ha trồng cây ăn quả và hơn 2.206 ha được trồng: mía, mì (sắn), các loại cây khác trên đất quy hoạch trồng rừng.

Năm 2005, qua vận động của các Ban quản lý dự án đưa được 608,6 ha đất lâm nghiệp bị bao chiếm và sử dụng đúng mục đích. Đến đầu năm 2006, diện tích đất lâm nghiệp còn bị bao chiếm sử dụng không đúng mục đích là 2.876,4 ha.

Đáng lo ngại nhất là tình trạng bao chiếm đất của Vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát, nếu như năm 2004 bị bao chiếm gần 230 ha thì năm 2006 diện tích này lên đến trên 363 ha (gần 306 ha cây ăn quả và cây cao su). Kế hoạch năm 2006, các Ban quản lý dự án phải trồng mới 550 ha rừng, song do tình trạng bao chiếm, sử dụng đất quy hoạch trồng rừng sai mục đích nên các dự án không hoàn thành, chỉ trồng được 96 ha (đạt 17,45% kế hoạch). Nếu tính cả 96 ha rừng mới trồng thì hiện tại diện tích đất lâm nghiệp bị bao chiếm sử dụng không đúng mục đích trên 2.780 ha.

Có thể nói, việc xử lý đối với 1.529,6 ha các hộ đang trồng cao su, cây ăn trái là một khó khăn, phức tạp mà các cơ quan chức năng có thẩm quyền ở tỉnh Tây Ninh đang lúng túng. Đến hết tháng 9/2006, cơ quan chức năng ở tỉnh Tây Ninh đã lập hồ sơ 158 vụ vi phạm về sử dụng đất lâm nghiệp không đúng mục đích. Nổi lên là có 6 cán bộ, đảng viên.

Ở khu rừng Văn hóa - Lịch sử Chàng Riệc, ông Nguyễn Hoàng Anh bao chiếm 6,4 ha, năm 2003 đã sang nhượng cho bà Châu Thị Tuyết và hiện tại bà Tuyết đã trồng cao su; ông Lâm Quang Thắng bao chiếm 7,9 ha  (trồng cao su 4,9 ha, trồng cây keo 3 ha); ông Nguyễn Đức Quyết có 4,5 ha trồng cao su năm 2003; ông Nguyễn Thành Long chiếm 6,7 ha sau đó đăng ký trồng rừng nhưng không thực hiện mà chuyển sang trồng 5,2 ha cao su và 1,5 ha cây keo năm 2003; bà Nguyễn Thị Kim Hoa cư ngụ xã Tân Bình cũng bao chiếm 6,5 ha và trồng cao su năm 2004.

Tất cả số người trên đều trồng cây cao su trên đất quy hoạch trồng rừng, nhưng đến nay Ban quản lý khu rừng Văn hóa - Lịch sử Chàng Riệc chỉ mới lập hồ sơ vi phạm đối với ông Lâm Quang Thắng và gửi hồ sơ đề nghị UBND huyện Tân Biên xử lý.

Còn tại Vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát, ông Huỳnh Minh Tuấn bao chiếm 20 ha trong quy hoạch trồng rừng. Năm 2005, ông Tuấn có làm đơn xin trồng rừng theo mô hình DCs (cây dầu xen cây cao su), nhưng không được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chấp thuận. Hiện tại, diện tích này ông Tuấn vẫn chưa trồng rừng.

Nguyên nhân để tình trạng bao chiếm đất quy hoạch trồng rừng ở tỉnh Tây Ninh kéo dài là do tiến độ xử lý hồ sơ vi phạm quá chậm, có nhiều hồ sơ vi phạm được gửi cho chính quyền các cấp từ lâu nhưng chưa được xử lý, dẫn đến nhiều vụ đã hết thời hiệu xử phạt hành chính. Mặt khác, các Ban quản lý dự án khi phát hiện vi phạm lập hồ sơ ban đầu có nhiều thiếu sót, thiếu tính pháp lý, phải củng cố, bổ sung nhiều lần làm chậm việc xử lý.

Cũng cần phải nói thêm là nhiều hộ dân không chấp hành quyết định xử phạt hành chính, không trồng rừng mà vẫn tiếp tục trồng cây cao su. Như ở xã Suối Dây và xã Tân Thành. Trong Đề án Tổng quan phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2000-2005, thì diện tích quy hoạch trồng rừng ở Tây Ninh là 5.052 ha, nhưng đến năm 2003 Vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát được thành lập nên diện tích quy hoạch trồng rừng được điều chỉnh tăng thêm 205 ha ở khu vực vành đai biên giới.

Một thực tế là diện tích trồng rừng ở Tây Ninh năm sau thấp hơn năm trước. Dự án rừng phòng hộ Dầu Tiếng còn 974 ha phải trồng rừng, kế hoạch năm 2006 trồng mới 200 ha, nhưng chỉ trồng được 8 ha; tương tự là Dự án rừng đặc dụng lịch sử Núi Bà Giống lâm nghiệp còn 180 ha và kế hoạch năm 2006 trồng 50 ha cũng chỉ thực hiện được 3 ha…

Tỉnh ủy, UBND tỉnh Tây Ninh đã có nhiều văn bản chỉ đạo giải quyết và xử lý tình trạng đất lâm nghiệp bị bao chiếm sử dụng không đúng mục đích nhưng việc giải quyết, xử lý của các cấp chính quyền, các cơ quan chức năng chưa được quan tâm, thiếu kiên quyết và đùn đẩy giữa các cơ quan xử lý (kiểm lâm, chính quyền và tòa án) không những làm cho việc xử lý dây dưa kéo dài mà còn làm ảnh hưởng đến tính nghiêm minh của pháp luật

Thu Thảo
.
.
.