Những cô giáo ươm chữ giữa đại ngàn

Thứ Hai, 10/03/2014, 11:51
Chúng tôi đến với Hà Giang vào một ngày đầu tháng ba, cái nắng hiếm hoi không đủ làm ấm thêm vùng cao nguyên đá. Giữa đại ngàn heo hút, được gặp gỡ, chứng kiến và nghe các cô giáo “cắm bản” trải lòng về sự nghiệp gieo chữ mới thấy hết những gì các cô đang làm thật cao cả, phi thường...

Tốt nghiệp Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Giang năm 1997, cô giáo Phạm Thị Minh Huệ (quê ở Sơn Dương, Tuyên Quang) xung phong lên vùng đất Niêm Sơn, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang làm cô giáo “cắm bản”. Với 38 tuổi đời, 17 năm tuổi nghề, lắng đọng trong cô giáo Huệ là những kỷ niệm buồn vui, gắn bó với dân bản và trong sâu thẳm vẫn là khát vọng đem con chữ đến với các em nhỏ vùng sâu, vùng xa.

Tâm sự với chúng tôi về những ngày đầu “cắm bản”, Huệ vẫn nhớ như in: “Ngày mình xuống tận nhà dân, vận động con em họ đi học nhưng mỗi người một thứ tiếng, nói gì họ cũng lắc đầu “chi pâu” (tiếng Mông - không biết) rồi nhìn cô giáo với ánh mắt nghi ngại. Cảm giác bất lực khiến mình bật khóc vì lo sợ, không biết làm cách nào để gọi được các em đến lớp”. Ngày xung phong đi, Huệ cứ nghĩ chịu được khổ là có thể dạy học, thế nhưng đi rồi mới biết, phải học nói sao cho cha mẹ các em hiểu, có được niềm tin của dân bản thì mới vận động được con em họ đến trường. “Vậy là ngày ngày cứ tranh thủ hết giờ lên lớp, tôi lại tập trung học tiếng Mông. Có biết tiếng, hiểu phong tục tập quán thì nói bà con mới hiểu, mới “ưng cái bụng” và theo cô giáo được”, cô Huệ trải lòng.

Mời chúng tôi ăn thử món mèn mén, một món ăn đặc trưng của đồng bào Mông, cô giáo Hoàng Thị Hạnh ở xã Sảng Tủng, huyện Đồng Văn chia sẻ sau câu hỏi của chúng tôi: “Vất vả nhiều nhưng chúng em cũng quen rồi. Động lực để các thầy cô nguyện bám bản dạy chữ giữa vùng đá tai mèo lởm chởm khó khăn này là người dân dù nghèo nhưng vẫn cho con em đi học chữ”.

Một năm có 12 tháng thì vùng cao nguyên đá phải đối mặt với 365 ngày khát nước sạch. Với các cô giáo cắm bản đây là điều khắc nghiệt nhất. Nhưng 4 năm gắn bó với thôn Hấu Chua 1 ở Giàng Chu Phìn, huyện Mèo Vạc, cô giáo Hà Thị Hương cứ ngày hai lần lại đi vác nước cách trường mấy cây số. Khó khăn là vậy, nhưng các thầy cô ở điểm trường Giàng Chu Phìn vẫn hết lòng với sự nghiệp dạy chữ nơi đại ngàn. Mà đâu chỉ có dạy chữ, giữa vùng hẻo lánh này, các cô còn là những cán bộ khuyến nông, đôi khi còn làm cả nhiệm vụ của… y tá để giúp bà con sản xuất, bảo vệ sức khoẻ.

Lớp học ở điểm trường thôn Cáo Chí Phìn, xã Sảng Tủng, huyện Đồng Văn (Hà Giang).

Ông Trần Đăng Khoa, Trưởng phòng GD&ĐT huyện Đồng Văn tâm sự: “Các cô giáo cắm bản không chỉ dạy riêng cái chữ mà còn làm rất tốt công tác xã hội, chăm lo đến đời sống của học sinh, của dân bản, thường xuyên phối hợp với các cơ quan chức năng tuyên truyền, vận động người dân xóa bỏ những hủ tục, cùng dân lao động sản xuất”. Chị Giàng Thị Pà, phụ huynh em Thò Thị Máy (học sinh lớp 2, điểm trường Hấu Chua 1, xã Giàng Chu Phìn) xúc động nói: “Nếu không có các cô giáo cắm bản thì mình chẳng biết gì cả. Không chỉ dạy chữ cho con mình, các cô còn thường xuyên xuống thăm hỏi, các con nhà mình bị bệnh các cô mua thuốc cho. Cả 4 đứa con mình đều được cô giáo đưa đi làm giấy khai sinh nữa đấy”.

Có lên đến đây giữa vùng đại ngàn heo hút này mới cảm nhận được sự cống hiến của các cô giáo cắm bản thật cao cả. Điểm trường Cáo Chí Phìn, xã Sảng Tủng, huyện Đồng Văn cách điểm trường chính 7 cây số, mất hơn một giờ đi bộ để lên đến lớp học chênh vênh trên đỉnh núi. Với 6 học sinh lớp 2, 18 học sinh mầm non. Hai lớp cách nhau chỉ bằng một tấm phên, một bên ê a đánh vần, một bên luyện chữ, tập tính. Lớp học xập xệ, được chống đỡ gá tạm bởi những cây gỗ ngang dọc, vách là những thanh tre gỗ ken mỏng, “hiện đại” hơn thì được làm bằng tường đất nện. Có những ngày mưa to gió bão, cả cô và trò chỉ lo lớp học sập, lại vội vàng sơ tán xuống trú tạm nhà dân. Khó khăn là vậy nhưng bằng tình thương, sự cảm thông sâu sắc với những đứa trẻ vùng cao, các thầy cô vẫn miệt mài với sự nghiệp gieo chữ.

Trò chuyện với các cô giáo nhiều năm “cắm bản”, chúng tôi phải cố gắng để tránh động đến nỗi niềm sâu kín của họ; đó là nỗi nhớ chồng con, nhớ gia đình. Một số cô giáo có gia đình ở thị trấn huyện, cách điểm trường mấy chục cây số. Cứ cuối tuần khô ráo, không có việc đột xuất thì các cô mới phân công người ở lại bám trường, người về. Theo Trưởng phòng GD&ĐT huyện Đồng Văn, Trần Đăng Khoa, hiện nay, hơn 10 cô giáo đã vượt qua sự khác biệt về văn hóa, lối sống để “kết tóc se duyên” với những chàng trai người Mông, người Dao ở nơi dạy học, tình nguyện gắn bó cuộc đời cho sự nghiệp trồng người nơi đại ngàn. Cô giáo Huệ rưng rưng nước mắt kể về cuộc điện thoại của cô con gái 4 tuổi, làm nũng mẹ: “Mẹ về nhanh với con đi. Mẹ đưa con đi học cùng với mẹ đi”. Bao giờ mới lại đến ngày về với các con? Vừa mong lại vừa sợ, chưa kịp quấn quýt đã phải rời xa, chỉ biết kìm nén nỗi nhớ nhà, thương con, cô giáo Huệ lại miệt mài bên những trang giáo án cho vơi bớt nỗi chóng vánh, buồn tủi.

Như có một sợi dây vô hình ràng buộc thầy cô với những đứa trẻ vùng cao. Dù có vô vàn gian khổ, vất vả, các thầy cô giáo vẫn kiên cường “cắm bản”, không bỏ cuộc. Cô giáo cắm bản không hề biết đến không khí của ngày 20-11 hay ngày 8-3, không hề được nhận một bông hoa, một lời chúc từ phía người dân và học sinh. Từ phương xa là đôi ba dòng tin nhắn của người chồng hay lời chúc của những đồng nghiệp cùng cảnh ngộ. Có những lúc chạnh lòng, nhưng động lực để các cô gắn bó với nơi này chính là sự tiến bộ của học sinh, thấy những đứa trẻ vẫn chăm chỉ vượt rừng đến lớp, chăm ngoan, ê a câu chữ, học xong tiểu học, tiếp tục học cao hơn, đó là món quà lớn nhất dành cho những cô giáo cống hiến cả tuổi xuân nơi đây để ươm chữ nơi đại ngàn…

Đỗ Hà
.
.
.