Nhập khẩu “lậu” cả LĐ có tiền án, tiền sự

Thứ Ba, 30/06/2009, 14:38
Người sử dụng lao động nước ngoài đã hợp lý hóa hồ sơ, đưa phần lớn lao động phổ thông của họ vào nước ta làm việc, thậm chí cả những đối tượng có tiền án, tiền sự, trộm cắp, nghiện hút, do không được sàng lọc được ngay từ khâu nhập cảnh vào Việt Nam.

Bát nháo lao động "4 không"

Kết quả đợt kiểm tra, khảo sát mới đây của Bộ LĐ-TB&XH, số người nước ngoài đang làm việc tại một số địa phương trên cả nước khoảng hơn 75.000 người, riêng Hải Phòng có khoảng 3.500 người (3.000/3.500 người thuộc đối tượng phải cấp phép lao động, chủ yếu ở các nhà thầu xây dựng).

Con số trên chủ yếu dựa vào báo cáo của các tổ chức, doanh nghiệp, còn những đối tượng lao động nước ngoài nhập cảnh trái phép, trá hình để làm việc thì vẫn chưa nắm được cụ thể. Theo phản ánh từ phía cơ sở, số đối tượng này là khá đông. Ngay cả lượng lao động nước ngoài nắm được thì tình hình cấp phép cũng rất thấp, quân bình chỉ đạt 37,9%, riêng Hải Phòng là 57,7%.

Theo phản ánh của người dân xã Tam Hưng, huyện Thủy Nguyên, thời kỳ cao điểm thi công Nhà máy Nhiệt điện Hải Phòng, địa phương có khoảng 3.000 lao động là người nước ngoài làm việc.

Tương tự, tại xã Ngũ Lão, cùng huyện Thủy Nguyên cũng vậy. Mặc dù số lao động nước ngoài được nhà thầu xây dựng Nhà máy Nhiệt điện Hải Phòng đăng ký tạm trú với quân số là 350 người, nhưng thực tế có mặt phải trên 1.000 lao động. Người dân địa phương gọi những đối tượng lao động này là dân "4 không" (không hộ chiếu, không visa, không tay nghề và không biết tiếng nước sở tại).

So với quy định, đây là những đối tượng lao động nước ngoài mà Việt Nam không có nhu cầu, thậm chí còn vi phạm pháp luật. Thế nhưng không hiểu sao, họ vẫn vào được Việt Nam?

Nhiều kẽ hở bị lợi dụng

Theo chủ trương của Bộ LĐ-TB&XH, chỉ cấp phép cho lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam khi người đó có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật: Có bằng cấp, có tay nghề, có đủ các loại giấy tờ liên quan tới thủ tục xuất nhập cảnh…

Đối với các doanh nghiệp được phép đưa lao động chuyên gia, kỹ thuật nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có thời hạn, đều phải tiến hành đăng ký và cấp phép lao động. Tuy nhiên trên thực tế, lao động phổ thông nước ngoài thời gian qua vẫn ồ ạt vào Việt Nam mà Hải Phòng là một trong những trọng điểm.

Công trường xây dựng Nhà máy Nhiệt điện Hải Phòng, nơi có đông lao động phổ thông nước ngoài làm việc.

Nguyên do, luật pháp của nước ta về lĩnh vực này còn nhiều kẽ hở, trong khi việc quản lý của cơ quan chức năng cũng như chính quyền sở tại lại lơi lỏng, thậm chí hời hợt.

Lãnh đạo Sở LĐ-TB&XH Hải Phòng cho biết, việc quản lý lao động nước ngoài tại địa phương căn cứ vào Nghị định 105/2003 của Chính phu. Theo đó, hồ sơ người lao động nước ngoài tại Việt Nam gồm 6 loại giấy tờ, trong đó 3 loại giấy quan trọng nhất là: Phiếu lý lịch tư pháp; giấy chứng nhận sức khỏe; bản sao chứng chỉ về trình độ chuyên môn. Tuy nhiên, cả ba loại giấy tờ này đều do phía nước ngoài (nơi người lao động của họ cư trú) cấp.

Đáng nói, lợi dụng những quy định này, người sử dụng lao động nước ngoài đã hợp lý hóa hồ sơ, đưa phần lớn lao động phổ thông của họ vào nước ta làm việc, thậm chí cả những đối tượng có tiền án, tiền sự, trộm cắp, nghiện hút, do không được sàng lọc được ngay từ khâu nhập cảnh vào Việt Nam.

Thậm chí, để đối phó, nguời sử dụng lao động nước ngoài còn chủ động đưa lao động phổ thông sau khi đã làm việc được 6 tháng, trở về nước để làm lại phiếu lý lịch tư pháp, rồi lại tiếp tục trở lại làm việc tại Việt Nam, coi như lao động mới (?!). Chưa kể, việc chứng nhận, xác nhận trình độ chuyên môn, tay nghề do phía nước ngoài thực hiện, cũng hết sức đơn giản.

Trong khi đó, nước ta hiện vẫn chưa thống nhất được với các nước thế nào là lao động có chuyên môn, tay nghề cao. Bởi vậy, mới có tình trạng, thợ xây, phu hồ vẫn được người nước ngoài coi là… "lao động tay nghề cao"  khi vào Việt Nam làm việc (?!).

Trong khi hành lang pháp lý còn nhiều kẽ hở như vậy thì tại một số địa phương có lao động là người nước ngoài, việc kiểm tra, giám sát, quản lý vừa bị động lại vừa lơi lỏng . Có quá nhiều lý do đưa ra để không thể quản lý được lực lượng lao động nước ngoài này. Chẳng hạn, do bất đồng ngôn ngữ, khó tiếp xúc; do lao động nhập cảnh trái phép, không hộ chiếu, không visa nên không nắm được nhân thân…

Chính bởi vậy, từ hơn 4 năm trở lại đây, khu vực công trường xây dựng Nhà máy Nhiệt điện Hải Phòng, nơi có đông lao động nước ngoài, tình hình ANTT vẫn luôn tiềm ẩn phức tạp.

Được biết, từ sau vụ lộn xộn, gây rối ở xã Tam Hưng, huyện Thủy Nguyên hồi tháng 10/2007, đến nay tình hình ANTT ở đây có phần bớt nhộn nhạo hơn do có sự hiện diện, tăng cường của lực lượng Công an chuyên trách địa bàn.

Tuy nhiên, đó chỉ là nhất thời, bởi vừa qua, hay tin có Đoàn kiểm tra của Bộ LĐ-TB&XH phối hợp với các Bộ, ngành chức năng về tình hình lao động nước ngoài tại địa phương. Nhiều lao động nước ngoài nhập cảnh trái phép đã trốn công trường về nước. Và khả năng, những đối tượng lao động này cũng sẽ quay lại địa phương khi có cơ hội, vì Dự án Nhà máy Nhiệt điện Hải Phòng còn chưa hoàn thành.

Có một thực tế là, trong khi tỷ lệ thất nghiệp trên địa bàn đang có xu hướng tăng cao do khủng hoảng kinh tế, nếu những đối tượng lao động phổ thông là người nước ngoài này tiếp tục ồ ạt vào, liệu có khiến người dân địa phương lạc quan, vui mừng hay thêm lo ngại?...

Lệ Thu
.
.
.