Nguồn lao động cho các doanh nghiệp FDI thiếu tính ổn định
Khoảng 1/4 số doanh nghiệp doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam (FDI) thiếu lao động trầm trọng, mặc dù môi trường làm việc và chế độ tiền lương đã được cải thiện đáng kể, nhất là đối với lao động có trình độ cao.
Thông tin trên là kết quả của cuộc khảo sát về việc làm của người lao động trong các FDI do Viện Khoa học lao động và xã hội (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) tiến hành.
Quá trình điều tra được thực hiện ở 250 doanh nghiệp FDI tại 5 tỉnh, thành là Hà Nội, TP HCM, Đồng Nai, Hải Phòng và Đà Nẵng (nơi tập trung nhiều nhất các doanh nghiệp FDI). Đặc biệt, trong số đó có tới 78% các doanh nghiệp được khảo sát đã có thời gian hoạt động ở Việt Nam trên 5 năm.
Kết quả cho thấy, phần lớn lao động tại các doanh nghiệp được khảo sát mới tốt nghiệp trung học phổ thông (chiếm tới 80%), trong đó có trên 57% lao động chưa qua đào tạo. Thông tin cho biết, hiện nay tình trạng lao động rời bỏ doanh nghiệp có xu hướng tăng lên, tỷ lệ này chiếm 20-25% so với quy mô lao động. Trong đó, 73% lao động tự bỏ việc; hầu hết trong số đó là lực lượng lao động phổ thông. Trên 2/3 số lao động được điều tra cho biết, họ đã từng thay đổi nơi làm việc; 53% trong số đó đã làm việc qua 2-3 doanh nghiệp, 10% đã làm việc qua từ 4 doanh nghiệp hoặc hơn.
Chính điều này đã khiến những doanh nghiệp FDI hàng năm phải tự tổ chức tuyển dụng với quy mô lớn, tuyển tương đương 30-40% tổng số lao động bình quân của doanh nghiệp. Tuyển dụng nhiều lao động là một trong những biện pháp để đảm bảo an toàn và ổn định nguồn lao động cho họ, nếu không muốn bị ảnh hưởng do nguồn lao động không ổn định và thiếu bền vững.
Mặc dù hiện nay doanh nghiệp FDI trả lương cho người lao động có xu hướng tăng, mức tăng bình quân 25%/năm. Trong đó, ngành được coi là trả lương cho người lao động cao nhất là sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước, với mức thu nhập bình quân là 4,039 triệu đồng/người/tháng. Cuộc khảo sát cũng cho thấy, hiện tại lao động có thu nhập thấp nhất không phải ngành dệt may và da giày (vốn được coi là có thu nhập không cao), mà là ở ngành thủy sản. Thu nhập bình quân ở ngành này là 819.000 đồng/người/tháng.
Phân tích từ Viện Khoa học lao động và xã hội, nguyên nhân chính của sự chênh lệch về thu nhập giữa các ngành chủ yếu bắt nguồn từ trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động. Theo bà Nguyễn Lan Hương, Phó Viện trưởng Viện Khoa học lao động và Xã hội thì phần lớn các doanh nghiệp tuyển lao động phổ thông, có sức trẻ vào sau đó đào tạo kèm cặp tại chỗ, vừa học và vừa làm là chính. Việc này thường gặp tại những doanh nghiệp ở miền Trung và miền
Tại các doanh nghiệp FDI, tiền lương tỷ lệ thuận với trình độ học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động. Cụ thể, người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao nhất (cao đẳng nghề) có thu nhập cao gấp 3,5 lần so với thu nhập của lao động phổ thông và cao gấp 2,88 lần so với lao động có trình độ sơ cấp. Ở các vị trí quản lý, những lao động nắm giữ các vị trí quản lý cao cấp trong doanh nghiệp, hiện có mức thu nhập bình quân 10,231 triệu đồng/người/tháng, gấp 9,86 lần so với mức thu nhập trung bình của lao động phổ thông và gấp 2,29 lần so với lao động quản lý bậc trung.
Sự chênh lệch về thu nhập của người lao động giữa các vùng, ngành cũng cho thấy, trong khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tiền lương đã trở thành giá cả tiền công của sức lao động. Điều này có thể coi là tất yếu vì nó phù hợp với quy luật phát triển của nền kinh tế thị trường. Và đương nhiên, khó mà đòi hỏi một thị trường lao động trong nước làm việc tại doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài có tính bền vững cao khi mà nhân lực của chúng ta vốn vẫn chỉ có "thế mạnh" là nhân công thấp, giá rẻ và nguồn lao động dồi dào, chứ chưa có trình độ và ít đòi hỏi về tính ổn định trong công việc
