Người gõ cửa bằng trái tim
Người "mạo hiểm" và dũng cảm gõ cửa đầu tiên là chị Phạm Thị Cúc - cựu bộ đội Trường Sơn thuộc Sư đoàn 413, Đoàn 559 năm xưa…
"Đường đi khó!"
Ban liên lạc Hội nữ Cựu Chiến binh huyện Yên Khánh (tỉnh Ninh Bình) được thành lập từ năm 1999, tập hợp tất cả chị em là lính Trường Sơn nhập ngũ từ quãng 1963. 111 chị em cựu lính Trường Sơn năm xưa còn sống đều tề tựu để gặp gỡ, ôn lại những kỷ niệm ngày xưa. Những thiếu nữ mười tám, đôi mươi năm nào, nay đã là những bà, những mẹ. Người ít may mắn hơn, phải chấp nhận cuộc sống đơn lẻ, trong sự đùm bọc yêu thương của hàng xóm, người thân và đồng đội…
Người đưa ra ý tưởng thành lập Ban liên lạc là chị Phạm Thị Cúc, nữ bộ đội Trường Sơn nhập ngũ năm 1973, biên chế vào Sư đoàn 413, Đoàn 559. Chị em tín nhiệm bầu chị Cúc là Trưởng ban liên lạc. Khi mọi người đã được tập hợp, chị Cúc đề nghị mỗi người đóng 30 ngàn đồng làm tiền quỹ sinh hoạt, chi phí cho những cuộc gặp gỡ… Thế nhưng, "sáng kiến" của chị Cúc, vô tình hé lộ những câu chuyện thật buồn.
"Kể từ khi Ban liên lạc được thành lập, cho đến nay, quỹ của hơn 100 con người chỉ vẻn vẹn đúng 1,3 triệu đồng. Lần đầu tiên, sau buổi gặp mặt, chúng tôi tổ chức một bữa ăn đạm bạc. Thế mà, nhiều chị đã bỏ về, không ở lại. Hỏi mãi có chị mới rơm rớm nước mắt: "Tao không đóng tiền, nên không ở lại ăn, tủi lắm…".
Thế là, những thiếu nữ mười tám, đôi mươi năm xưa nay đã là những bà, những mẹ lại ôm nhau khóc. Một đợt khác, chị Bình (cựu lính Trường Sơn ở xã Khánh Hoà, huyện Yên Khánh) kéo tôi ra một góc, rồi tẩn mẩn lôi từ trong cạp quần một cái túi vải nhỏ, cất rất kỹ…
Chị loay hoay một lúc, rồi giúi cho tôi một xấp bạc lẻ: "Đây là 30 ngàn, tao đóng cho mày làm quỹ, để cùng sinh hoạt với chị em!". Sau này, tôi được biết, đó là mấy ngày công đi cấy thuê, chị Bình giấu chồng con, để dành ra… Thế là lại khóc. Lúc ấy, trong tôi dấy lên một quyết tâm, phải nghĩ ra một cái gì đấy, để giải quyết bài toán kinh tế cho chị em, những người lính năm xưa đã không chết trước đạn bom kẻ thù, thì không có lý do gì có thể gục ngã trước khó khăn vất vả…".
Chị kể câu chuyện đã cách đây gần chục năm trời. Câu chuyện khiến chị suy nghĩ và day dứt trong nhiều đêm. Câu chuyện ám ảnh và nhen nhóm trong chị một quyết tâm, sẽ không để cho ai gục ngã. Và thế là, quyết tâm gõ cửa cuộc sống của những nữ Bộ đội Trường Sơn năm xưa được bắt đầu.
Ban đầu, chị Cúc lặn lội lên gặp lãnh đạo huyên Yên Khánh, trình bày nguyện vọng xin "thầu" công việc quét chợ huyện để lấy tiền làm quỹ cho cả ban, hoặc xin huyện "cho" các chị được đảm nhận việc dọn vệ sinh, làm cỏ… trong Ủy ban huyện.
Ông Chủ tịch huyện Yên Khánh khi ấy, gạt phắt đi: "Các chị làm thế, khác gì bôi gio trát trấu vào mặt huyện!". - "Đấy không phải là việc xấu. Chúng tôi xin được làm những công việc chân chính, bằng mồ hôi và sức lực của mình…". Rồi cơ may đến, khi huyện có dự án trồng nấm rơm. Cũng ông Chủ tịch huyện khi ấy, một lần gọi tôi và bảo: "Có một việc này, các chị có dám làm không?".
Lớp học tập huấn kỹ thuật được mở. Ròng rã nhiều tuần liền, người ta thấy các mẹ, các chị cần mẫn đi đi, về về… Mỗi người khi đi học mang ở nhà một bơ gạo, một mớ rau, một nắm rơm. Yên Khánh là vùng thuần nông.
Từ lâu, rơm rạ - những thứ được coi là phế phẩm của nông nghiệp, hầu hết người ta đều đem đốt cả, khói bay mù trời vào những ngày mùa. Chị Cúc đã nhìn thấy từ dự án trồng nấm rơm một lối thoát cho cả trăm con người, và vận động đồng đội quyết tâm theo đuổi. Được chính quyền tạo điều kiện, ước mơ dần dần trở thành hiện thực.
Khi kỹ thuật đã nắm bắt được, mô hình hợp tác xã trồng nấm rơm được thành lập. Lúc ấy, để có tiền mua giống nấm, chị Cúc bán hơn 100 con gà vịt, hai con lợn sề đang chửa… Chị em, ai có bao nhiêu góp ngần ấy. Vẫn thiếu 80 ngàn đồng. Chị Cúc, chị Duyên, chị Sợi lo nốt phần tiền thiếu. Rồi, mọi thứ cứ dần dần hiện hữu, bằng những hiện vật do chính những người lính nữ Trường Sơn làm nên, bằng công sức lao động của mình.
Lúc ấy, xã Khánh Hồng cho Ban liên lạc mượn một khoảnh đất rộng hơn 16 ha trên triền đê. Mảnh đất ấy xưa nay vẫn bỏ trống. Mỗi người góp vật liệu rơm rạ, tre pheo, cọc luồng… Cũng chính những người phụ nữ ấy, phăm phăm trèo lên mái nhà tự tay lợp từng đon rạ. Đến bữa, 15 mâm cơm được dọn ra cho các "thợ nữ". Cơm đạm bạc chẳng có gì, nhưng các chị vẫn cười giòn tan. Những kỷ niệm về chiến trường xưa được ôn lại giữa những lúc giải lao… Những bài hát về Trường Sơn được các chị hát lại, dù giọng hát không còn khoẻ khoắn như trước, nhưng vẫn làm vang động cả triền đê lâu nay vắng lặng…
![]() |
| Chị Phạm Thị Cúc ở cơ sở sản xuất nấm rơm. |
Kỷ niệm về những ngày tháng khởi đầu gian khổ, lại được ghi thêm vào trang nhật ký chiến trường năm xưa… Tao đoạn khó khăn cũng qua đi, khi mầm nấm rơm bắt đầu nhú lên từ những đụn rạ rơm tưởng chừng không còn giá trị đối với con người. Hơn một trăm người phụ nữ, từ bàn tay trắng, đã không gục ngã để nuôi niềm hy vọng của mình.
Hợp tác xã sản xuất nấm rơm của những người nữ bộ đội Trường Sơn, cũng không được như mong muốn, vì những lý do, những chuyện buồn không muốn kể. Cả trăm người khi ấy, đã ôm nhau khóc. Có người, trong lúc gần như tuyệt vọng, đã ôm chị Cúc thật chặt, rồi khóc ròng như con trẻ. "Tại sao chúng mình, những đứa không chết vì bom đạn, lại có thể gục ngã vì những lý do tầm phào như thế, hả Cúc?".
Gạt nước mắt, chị Cúc nói cứng với đồng đội: "Chúng ta không dễ dàng bỏ cuộc. Chị em, đồng đội cứ tin tưởng ở tôi. Nếu tôi không làm được, tôi sẽ thả mình xuống dòng sông Tiêu này, không cần ai vuốt mắt. Nếu tôi làm được, sẽ có cả trăm con người vuốt mắt cho tôi…".
Cơn bĩ cực cũng qua đi, khi Giáo sư Nguyễn Lân Dũng biết đến, đã xuống tận nơi mang kỹ thuật phổ biến cho chị em. Giữa những lúc khó khăn nhất tưởng chừng chỉ buông nhẹ tay là ngã gục, Giáo sư Lân Dũng đã trở thành điểm tựa tinh thần của hàng trăm con người. Và, tất cả những người lính ấy đã cùng gọi ông bằng "Thầy", với lòng tôn kính.
Năm 2004, chị Cúc quyết tâm thành lập công ty cổ phần nấm rơm, với kỳ vọng to lớn, đấy là nơi gặp gỡ, qua lại của tất cả các cựu chiến binh Trường Sơn nói riêng và các cựu chiến binh nói chung, những người đã đi qua những thời khắc ác liệt của cuộc chiến vào sinh ra tử. Cổ đông, cũng vẫn những người lính năm xưa, ai có bao nhiêu đóng góp bấy nhiêu. Lại một "cuộc cách mạng" làm lại từ đầu.
Lại những người phụ nữ đi qua cuộc chiến, đi qua các trọng điểm bom rơi đạn nổ, tự tay dựng nhà xưởng, lợp rơm rạ… trên khu đất mới. Thấm thoắt, đã ngót nửa thập kỷ Công ty T&B được họ khai sinh, đã trưởng thành trên mảnh đất mới. Những mẹ, những chị cựu chiến binh Trường Sơn năm xưa, vì tuổi cao, sức khoẻ không chống chọi được với bệnh tật, đã "lùi lại tuyến hai", để nhường chỗ cho con em mình, con em đồng đội vào tiếp sức.
"Nhân lực" trụ cột của T&B, ngoài những nữ bộ đội Trường Sơn, còn có sự góp sức của một lực lượng đông đảo các cháu là nạn nhân chất độc da cam. Những cây nấm sinh ra từ rơm rạ, đã mở cửa cho nhiều cuộc đời, nhiều số phận.
"T&B, là tên gọi tắt của Thương Binh, hoặc có thể gọi là Tôi và Bạn. Ban đầu, tôi cùng chị em muốn lấy tên Trường Sơn để đặt tên cho công ty của mình, nhưng ở Ninh Bình đã có mấy công ty có tên như thế. Đối với những người đã cất giữ Trường Sơn trong máu thịt của mình, không dễ dàng quên được nó. Không có tên Trường Sơn, nhưng lô-gô của sản phẩm, sẽ là hình ảnh đỉnh núi sừng sững và quen thuộc ngủ giữa mây ngàn. Nó làm chúng tôi đỡ nhớ Trường Sơn hơn…" - chị Cúc tâm sự.
Gõ cửa bằng trái tim!
Cơn mưa hạ đột ngột ập xuống giữa cái nắng hè oi ả. Khuôn viên nhà xưởng bỗng lặng lẽ và vắng vẻ. Tôi ngồi tiếp chuyện giữa những người lính già Trường Sơn năm xưa, trong cảm giác nhoi nhói của thế hệ hậu sinh, được hưởng thành quả từ những người để lại tuổi thanh xuân nơi những góc rừng của đại ngàn hùng vĩ.
Các chị nói chuyện với nhau, ôn lại những kỷ niệm cũ đã lùi xa mấy chục năm, mà tưởng như nó vừa mới đi qua. Chị Phạm Thị Tiến, người thiếu nữ xã Khánh Cư nhập ngũ ngày 28/8/1973, khi vừa tròn 18 tuổi. Làm lính của Sư đoàn 472 đóng ở Xavanakhét (Lào), khi ấy, chị Cúc, chị Tiến vẫn chưa biết mặt nhau. Đất nước thống nhất, trở về quê hương, tìm đến với nhau ở Ban liên lạc nữ cựu chiến binh Trường Sơn (Yên Khánh - Ninh Bình), họ mới biết mình là đồng đội.
Hai cô lính trẻ năm nào, nay đã là những bà, những mẹ ở tuổi 60, chuyện vẫn rôm rả như thời con gái. Những kỷ niệm, kinh nghiệm thời là bộ đội Trường Sơn được các chị "áp dụng" trong những ngày xây lán trại cho cơ sở sản xuất nấm rơm của tổ hợp tác xã nấm rơm (năm 2004). Cho nên, chuyện những bà lão 60 tuổi, trèo thang phăm phăm, tự tay lợp mái rạ thành thục như đàn ông, đối với các chị, hình như quá bình thường…
Trong câu chuyện, chị Cúc nhờ chị Tiến bới lại cho chị mái tóc mà từ sáng đến giờ, vì mải mê với bao công việc, nó đã rối tung cả. Cách đây ba tháng, chị bị gãy tay. Đến bây giờ, cánh tay vẫn chưa lành, vẫn chưa giơ lên được để mà tự chải tóc cho mình. Thế mà tối hôm kia, không có ai ở xưởng, chị Cúc phải một tay chạy xe máy mang mấy chục kilôgam nấm tươi đến cho nhà chùa…
Câu chuyện gãy tay của chị lại liên quan đến một chuyện buồn khác. Số là, sau một thời gian rất dài đấu tranh, được lãnh đạo tỉnh quan tâm, huyện Yên Khánh mới "nhường" cho Công ty Nấm rơm T&B thuê lại mảnh đất nguyên là xưởng sản xuất rượu, xì dầu… thời bao cấp.
Ngay phía cổng ngoài, một cơ sở sản xuất giống nấm tư nhân đã tự ý xây một cái cổng, gắn thêm một cái bảng "Ra vào cơ quan xuống xe, xuất trình giấy tờ!". Những nhiêu khê về thủ tục hành chính do cơ sở này gây ra đối với nhân viên, với khách hàng của công ty… tạm không bàn đến.
Thế nhưng, sự quá đáng của chủ xưởng tư nhân này, họ tự ý đóng cửa sớm, 6 giờ sáng mở cửa, buổi tối 6 giờ đã khoá cửa. Chị em thương, bệnh binh làm việc ở xưởng sản xuất nấm T&B, như là những người đi ở nhờ, nếu không ra vào đúng giờ ấy, phải cam chịu bó gối trong nhà, không ra không vào. Cực, các chị phải làm một cái thang, đi men lối bờ ruộng rồi vượt qua bức tường cao hơn 2 mét để vào lán xưởng của mình. Xe chở hàng của T&B đi qua cổng, chủ xưởng tư nhân nấm Nam Hương kia ra thu vé, mỗi lần… 200 ngàn đồng.
Nín nhịn, chị Cúc cam lòng đóng cho xong chuyện, dù con đường đi vào khu xưởng của T&B, là lối đi chung do xã quản lý… Cánh tay trái của chị Cúc mới gãy cách đây mấy tháng, cũng là do cơ sở tư nhân kia đóng kín cổng, rồi xuỳ chó đuổi không cho chị vào. Cực, chị phải trèo thang để vượt bức tường cao ngất vào nhà, rồi bị ngã gãy tay…
Ngắt lời kể của chị Tiến, chị Cúc cười xoà: "Gạt mấy chuyện "tầm phào" không đáng nói ấy sang một bên, đừng bận tâm đến nó… Những người xây dựng T&B, là để hướng tới nó sẽ là nơi gặp gỡ của tất cả đồng đội sau này, là chỗ dựa chung của cả đồng đội, là tài sản thừa kế của con cháu những đồng đội mình sau này…".
Chị cẩn thận mang chiếc balô cũ cất trong ngăn tủ: "Đây là một trong những tài sản quý nhất của người lính Trường Sơn chúng mình…". Những kỷ vật của người lính Trường Sơn, gắn bó với họ suốt bao ngày tháng: đây là chiếc cặp lồng, chiếc camen, chiếc dù vừa làm chăn, vừa làm võng, con dao găm đi rừng, thái rau, chặt thịt gà những bữa "tăng gia"… Trịnh trọng bày từng món đồ lên bàn, chị vừa kể những kỷ niệm gắn liền với mỗi báu vật.
Chị Cúc cẩn thận mở nắp một chiếc hộp nhôm, vốn là chiếc hộp đựng kem đánh răng, bàn chải… vẫn còn sáng bóng… Một lọn tóc được cất cẩn thận trong lớp vải điều đỏ. "Đây là lọn tóc tuổi 18 của một người đồng đội tên Dung, quê Phủ Lý, Hà
Thế mà, chiếc lược răng thưa giũa từ một miếng đuya-ra máy bay Mỹ, nó bứt từng búi ra, đau khủng khiếp. Mỗi một lần như thế, Dung đều khóc vì đau đớn, và nhiều lần ngất đi… Đồng đội thương Dung mà không làm sao để giúp được. Chị Cúc lặng lẽ cất những sợi tóc rụng ấy, rồi gom lại thành một lọn, giữ làm kỷ vật cho riêng mình để nhớ đến một đồng đội…
Chị Cúc tâm sự: "Ước mơ của tụi mình, đấy là sẽ phát triển T&B, có kinh tế để giúp đỡ đồng đội, vì những người lính Trường Sơn, những người lính nữ, còn chịu đựng những thiệt thòi gấp bội phần so với anh em nam giới. Khi có điều kiện, những kỷ vật của đồng đội sẽ được tập hợp lại, bày trong tủ kính để làm tài sản chung cho mọi người…".
Cơn mưa vội tạnh từ lúc nào. Nắng bừng lên chói chang làm những ô phên nứa phơi những quả nấm bông sáng bừng. Nhìn vào đôi mắt của chị, tôi hiểu… Có thể, đừng truy tìm những nguyên cớ, vì các chị là lính Trường Sơn…

