Ngôi nhà có 7 người bị điên
Chính ngọ, chúng tôi mới tìm được ngôi nhà ấy ở thôn Khả Liễu, xã Văn Hoàng, huyện Phú Xuyên, Hà Tây (cũ). Cũng nhà ngói, sân gạch; cũng bể nước mưa đầy ăm ắp; cũng cây rơm vàng trước sân… nhưng có cái gì đó thật vắng lặng. Chủ nhà thấy khách lạ cười ngẩn ngơ thành ra khách cũng trở nên lớ ngớ. Rất may, bà cụ hàng xóm xuất hiện.
Cận cảnh
Người chủ đầu tiên chúng tôi gặp trong ngôi nhà này là Nguyễn Văn Toan, tên thường gọi là Cu. Anh Cu, SN 1969, tính cả tuổi mụ năm nay đã là 40. Anh cao lớn, da rám nắng, mũi cao, mày rậm. Chỉ tiếc rằng anh vận chiếc quần đùi rách toạc gần hết một ống và chiếc áo đông xuân xoạc vai.
Thấy vẻ ái ngại của chúng tôi, bà cụ bảo: "Người làng, người xã thấy thương cho quần áo cũ suốt, nhưng chỉ được vài ngày anh Cu lại xé rách". Mặc người hàng xóm thân thuộc, mặc ba người khách lạ đứng ngoài sân, anh Cu ra đống gạch gần cổng ngồi.
"Cu ra đồng gọi anh Soạn về", một người hàng xóm lên tiếng. Không trả lời nhưng anh Cu lập tức lao đi. Anh Soạn là người duy nhất trong 5 người con của ông Nguyễn Văn Tác lành lặn cả thể chất và tinh thần.
Bốn người con khác của ông là Nguyễn Thị Đoan, 32 tuổi; Nguyễn Văn Toan (tức Cu) 39 tuổi; Nguyễn Văn Đằng, 37 tuổi và Nguyễn Văn Giáp (đã mất) SN 1973, đều thiểu năng trí tuệ.
![]() |
| Anh Cu và đứa cháu; chị Đoan; anh Đằng. |
Ghé vào gian bếp chật hẹp, nóng bức, chúng tôi thấy chị Đoan đang đội nón lá, nấu cơm bằng lá bạch đàn. Đôi bàn tay chị đều đều đẩy lá, khêu lửa. Người hàng xóm gọi, đồng nghiệp của tôi cũng gọi nhưng chị không đáp lời. Thế nhưng, khi tôi cất lời "Chị nấu cơm à? Cho em ăn với nhá?" thì chị hỏi: "Người đâu đến?". Và đây là câu nói duy nhất của chị khi gặp chúng tôi.
Anh Soạn cùng vợ về, đó là người đàn ông khỏe mạnh. Vợ anh cũng là một người đàn bà tươi tắn. Anh cán bộ xã lấy chiếc chiếu cói còn mới nhưng mép thì rách te tua trải xuống giữa nhà. Vợ anh Soạn sang hàng xóm mượn bộ ấm chén.
Anh chị nuôi em
Theo anh Soạn, khi mẹ anh đang mang thai anh thì bố anh đi bộ đội. Khi bố anh xuất ngũ, những đứa em lần lượt ra đời. Nhưng khác với người ta, em của anh càng lớn càng có dấu hiệu bất thường. Về thể xác không có gì đặc biệt nhưng trí tuệ, tâm tính không bình thường.
Bố mẹ anh ra đi để lại sự trống vắng ghê gớm (Bố anh mất cách đây hơn 3 năm, còn mẹ anh mới qua đời hồi tháng 4). Ngôi nhà ngói 5 gian chia thành 2 bếp ăn. Bếp ăn của vợ chồng anh Nguyễn Văn Đằng và chị Nguyễn Thị Thuỷ với 3 đứa con và bếp anh của anh Cu và chị Đoan. Căn buồng bên phải là khoảng trời riêng của gia đình anh Đằng, căn buồng bên trái là của chị Đoan, còn anh Cu ngủ ở chiếc phản kê ở nhà ngoài.
"Lãnh địa" đã phân chia là thế nhưng vào những ngày trở trời, "chiến sự" lại xảy ra. Ngay như anh Cu và chị Đoan dù nấu cơm chung một nồi nhưng hai người không bao giờ ăn cùng mâm.
Anh Cu vốn không biết nấu cơm, cả ngày đi lang thang trong làng, trầm mình xuống mương, ao. Người làng không ít lần lôi lên bờ rồi kéo về nhà. Mùa hè quần áo anh lúc nào cũng ướt lượt sượt đã đành, vào mùa đông cũng thế. Nhiều lần, anh đi lang thang đến 1 - 2h sáng khiến anh Soạn và vợ phải đi tìm. Ấy vậy mà khi chị Đoan nấu cơm lên rồi, xới ra anh cũng chẳng chịu ngồi ăn cùng...
Mỗi thành viên trong gia đình này được giao nửa suất ruộng khoán (vì là lao động phụ), trung bình 1 sào/người. Không ai tự cấy, gặt được nên vợ chồng anh Soạn lo cày cấy thu hoạch. Hằng ngày, anh chị lo đưa gạo, thức ăn đến để các em tự nấu. Nếu đưa gạo ăn hai ngày, chị Đoan bỏ cả vào nồi nấu. Nồi nhỏ, nấu nhiều gạo thành ra cơm sống, cơm khê. Rút kinh nghiệm, tiêu chuẩn ngày nào anh chị mang vào ngày đó. Một tuần đôi ba lần, anh chị lại cung cấp bát mới và đến gõ lại xoong nồi, mâm.
"Cái chậu nhôm dày dặn là thế mà chỉ được hôm trước, hôm sau cô chú ấy làm cho méo xệch", vợ anh Soạn vừa nói, vừa chỉ cho chúng tôi xem cái chậu đang nằm chơ vơ góc nhà. Chúng tôi hỏi sao anh chị không ở luôn trong nhà này để trông nom các anh, cả hai người đều bảo họ nhận thầu khoán ao, ruộng của làng làm trang trại nên phải trông nom, làm lụng để nuôi bản thân và những người em này.
Khi bóng nắng đang ngả dần, anh Đằng mới trở về với chiếc quần đùi ướt và chậu ốc vừa mò được ngoài mương. Thấy có khách lạ, anh cũng chẳng thèm chào hỏi mà chui vào gian buồng hì hụi gọt mướp.
Người điên “thế hệ 3”
Anh Đằng, chị Thuỷ dù "chập cheng" lấy nhau nhưng họ cũng có 3 mặt con, 2 gái một trai. Tiếc rằng cả 3 đứa con của họ cũng có biểu hiện thiểu năng trí tuệ. Hai cháu gái đã hơn 10 tuổi nhưng không thể đến trường mà đi làm thuê. Cháu bé thì hằng ngày ở nhà chơi hoặc đi lang thang với bác Cu. Chị Thuỷ vợ anh là người duy nhất biết lao động, tuy nhiên lại chẳng biết tính toán gì nên làm đầu đổ đuôi.
"Bố mẹ tôi lấy vợ cho chú Đằng với mong muốn chú ấy có con để nương nhờ sau này, không ngờ các cháu tôi cũng chẳng được tinh khôn. Cả đứa cháu trai cũng vậy, cứ vào ngày thay đổi thời tiết là nó lại phá phách, ngay cả cái bàn thờ nó cũng trèo lên..." - anh Soạn xót xa.
Vĩ thanh
Ông Nguyễn Văn Định, Chủ tịch UBND xã Văn Hoàng cho biết, xã có biết hoàn cảnh gia đình anh Soạn. Vào những ngày lễ, Tết xã có hỗ trợ phần nào. Mới đây, xã nhận được đơn xin hưởng chế độ chất độc da cam cho các em của anh Soạn, tuy nhiên do giấy tờ theo quy định chưa đủ nên xã chưa giúp gia đình anh làm chế độ được.
Xét hoàn cảnh gia đình, năm 2007 xã đã đề nghị trợ cấp xã hội cho vợ chồng anh Đằng, anh Toan (anh Cu) và chị Đoan. Nhưng do số lượng có hạn nên chỉ được xét 2 suất cho anh Đằng và anh Cu, mỗi suất 120.000đ/tháng. Năm nay xã sẽ tiếp tục đề nghị trợ cấp cho hai người còn lại.
Chúng tôi hỏi anh Soạn những giấy tờ liên quan để xin hưởng chính sách chất độc da cam, anh đau xót mà rằng: "Nhà tôi làm sao giữ được giấy tờ gì. Hễ thấy tờ giấy nào, mấy đứa em dại lại xé ngay đi. Đến cái chậu còn chả được lành lặn, huống hồ là tờ giấy. Trước đây bố tôi cũng từng lên huyện xin chế độ, nhưng do thiếu giấy tờ gì đó nên đành chịu về không".
Có lẽ, chứng cứ duy nhất để khẳng định bố anh bị ảnh hưởng chất độc da cam bây giờ là những người đồng đội chiến đấu năm xưa. Ông Vũ Đình Cẩn ở thôn Nội, xã Văn Hoàng có viết giấy xác nhận cùng nhập ngũ với ông Tác (bố anh Soạn) ở đơn vị C20, trực thuộc Trung đoàn E9, F304, cùng chiến đấu trên chiến trường Hạ Lào từ tháng 1/1965. Ông Cẩn cũng đã được hưởng chế độ ảnh hưởng chất độc da cam.
Chúng tôi ra về khi đã gần 13h. Ái ngại khi chúng tôi từ xa về nắng nôi, vợ anh Soạn mời ra lán ăn bát cháo. Nhớ lại câu trả lời của chị lúc trước tại sao lại lấy anh Soạn, khi gánh nặng gia đình của anh quá lớn, chị rằng "vì yêu nên lấy", chúng tôi rất khâm phục chị.
Vết sẹo ở chân vẫn còn do người em chồng khùng lên băm nhát cuốc khiến máu chảy lênh láng, nhưng chị không vì thế mà xa lánh họ. Hai vợ chồng cố gắng làm lụng để nuôi con và nuôi những đứa em, đứa cháu dở người. Con lớn của anh Soạn đã phải bỏ dở lớp 7 để giúp bố mẹ làm việc. Mới đây, anh Soạn đã được kết nạp Đảng vì những nỗ lực trong cuộc sống, vì tấm lòng với các em...
Chia tay gia đình bất hạnh ấy, chúng tôi cứ trăn trở mãi. Họ đang rất cần sự giúp đỡ của cộng đồng, của những người làm chính sách và những tấm lòng biết chia sẻ nỗi đau. Mọi giúp đỡ gia đình anh Soạn xin gửi về Quỹ XHTT Báo CAND, địa chỉ số 66 phố Thợ Nhuộm, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Điện thoại: 04.9420595

