Ngành than không còn “ăn sẵn”

Chủ Nhật, 11/09/2005, 08:49

Mở rộng vùng khai thác, đầu tư cho việc khai thác than tại các bể than có độ sâu 300-1000m, sẽ là định hướng cho ngành công nghiệp khai thác than thời gian tới.

"Không đơn thuần là một ngành kinh tế mũi nhọn, trong thực tế hiện nay và tương lai gần, ngành Than đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia khi mà việc khai thác các tiềm năng khác đã cạn, việc triển khai các nguồn năng lượng mới còn hạn chế và gặp nhiều khó khăn...” Bộ trưởng Công nghiệp Hoàng Trung Hải đã phát biểu như vậy khi đề cập đến việc xây dựng chiến lược phát triển ngành Than Việt Nam từ nay đến năm 2015 và định hướng cho tới năm 2025.

Nhìn vào danh sách khách hàng của ngành Than thì nhiệt điện vẫn tiêu thụ nhiều nhất chiếm 35-40%, kế đó là xi măng 14-16%... Theo Viện Nghiên cứu chiến lược, chính sách Bộ Công nghiệp thì tương lai gần, khi các nguồn năng lượng khác, nhất là thủy điện đã đi vào giai đoạn khai thác tối đa thì ngành Điện vẫn tiêu thụ than với tỷ trọng lớn nhất.

Trước nay, vùng than Quảng Ninh được xem là bể than lớn nhất cả nước, diện tích kéo dài từ Phả Lại đến Vạn Hoa 130km với chiều rộng từ 10-30km. Bể than Quảng Ninh có vị trí và các điều kiện địa lý tự nhiên, địa lý kinh tế rất thuận lợi cho phát triển công nghiệp khai thác và xuất khẩu than. Tại bể than này, trữ lượng than có độ sâu trên 300m khoảng 3,43 tỷ tấn, tuy nhiên ngay tại cấp khai thác cũng đòi hỏi nhiều đầu tư hơn.

Song việc thăm dò dưới mức -300m chưa thực hiện được nhiều, điều này đã đặt ra nhiều bài toán khó giải đáp cho việc lập chiến lược phát triển ngành. Theo các tài liệu có được, dự báo bể than Quảng Ninh còn khoảng 6,9 tỷ tấn nếu tính phạm vi khai thác trên -300m. Các mỏ than khác trong cả nước trữ lượng còn lại chỉ 164,2 triệu tấn và khoảng 7,1 tỷ m3 than bùn.

Bằng sự hỗ trợ của Chính phủ Nhật Bản, ngành Than đã tiến hành khoan thăm dò than tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ và đã phát hiện mỏ khoáng sàng Bình Minh - Khoái Châu (Hưng Yên) có trữ lượng 166,2 triệu tấn.

Than đồng bằng sông Hồng là loại than nâu (Sub Bituminous) có nhiệt năng cao, hàm lượng lưu huỳnh thấp, có tiềm năng và trữ lượng rất lớn và được đánh giá là sẽ cân đối được nhu cầu phục vụ an ninh năng lượng cho Việt Nam sau năm 2020. Gần đây, việc thăm dò đã được mở rộng tại khoáng sàng Bình Minh với diện tích trên 25km2 được đánh giá trữ lượng 373 triệu tấn. Tính đến độ sâu trên 1.000m, diện tích 80km2 thì trữ lượng lên tới trên 1,5 tỷ tấn.

Mở rộng vùng thăm dò hơn nữa (từ Khoái Châu, Hưng Yên đến Đông Hưng, Thái Bình), theo các chuyên gia thì trữ lượng bể than này ở độ sâu 1.000m lên tới gần 30 tỷ tấn, lớn hơn rất nhiều so với trữ lượng than của bể Quảng Ninh. Tuy nhiên, công nghệ khai thác tại đây cũng đòi hỏi phải đầu tư lớn hơn. Nếu mọi việc thuận lợi, đến năm 2015 bể than đồng bằng sông Hồng sẽ cho những tấn than đầu tiên.

Theo Bộ trưởng Hoàng Trung Hải, bên cạnh các vấn đề cần khắc phục thì việc đánh giá trữ lượng sẽ là căn cứ chính để xác định phương án phát triển, mức đầu tư nhằm khai thác triệt để, hiệu quả cao nguồn năng lượng này phục vụ tốt hơn nữa cho an ninh năng lượng quốc gia

Ngọc Tước
.
.
.