Một ngày ở đền Đô

Chủ Nhật, 10/10/2010, 14:29
Những ngày này, khi dòng du khách thập phương hân hoan hướng về Hà Nội, chúng tôi ngược dòng người, tìm về đền Đô (phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh), thái miếu của vương triều Lý, triều đại đã khai mở nền văn minh Đại Việt và kinh đô Thăng Long xưa.

Theo quốc lộ 1A, hoặc 1B, đền Đô cách Hà Nội và thành phố Bắc Ninh chỉ chừng 20 km, tọa trên khu đất rộng phẳng, thoáng đãng, không biệt lập với khu dân cư, nhưng vẫn mang dáng vẻ thâm nghiêm, trầm mặc. Ngôi đền vừa được trùng tu lớn phục vụ du khách nhân dịp Đại lễ, những công trình mới khánh thành, xen lẫn nền dấu cũ in đậm kiến trúc đình đền cổ rêu phong, nhưng không tương phản, mà lại rất hài hòa, phù hợp.

Khu di tích đền Đô có diện tích 31.250m2, với trên 20 hạng mục công trình gồm: đền thờ, nhà tiền tế, hương đình, nhà bia, nhà để kiệu, nhà để ngựa thờ, cửa rồng, thủy đình, văn chỉ, võ chỉ... Nhà thủy đình đền Đô xưa đã được ngân hàng Đông Dương thời thuộc Pháp chọn làm hình ảnh tiêu biểu in trên tờ giấy bạc 5 đồng, nay lại được in trên mặt đồng tiền kim loại 1000 đồng, như một danh thắng văn hóa tiêu biểu.

Cửa rồng ở Đền Đô.

Đứng trước không gian thanh bình, trong trẻo, rợp mát bóng cây xanh, giữa khu hồ bán nguyệt trong xanh rộng 9.500m2, với thủy đình vuông vức rộng 3 gian, có 4 hàng cột, kiến trúc theo kiểu chồng diêm, 2 tầng, 8 mái, 8 đao cong, tàu đao mái góc, có hình rồng chầu nguyệt, ấn tượng đầu tiên của chúng tôi, ngoài sự thành kính là thanh thản.

Cùng ngồi tựa trên chiếc ghế đá sạch sẽ với tôi, ông Nguyễn Văn Thanh (65 tuổi, người huyện Hiệp Hòa, Bắc Giang) vui vẻ quay sang trò chuyện như với người nhà: "Từ sáng sớm, tôi đã phóng xe máy về đây, rồi buổi chiều mới tiếp tục về Hà Nội xem Đại lễ. Nhiều năm không về thăm đền Đô, thấy đền nay khang trang quá, sạch đẹp quá. Trong khu vực đền không có hàng quán bày bán nhộn nhạo, người bán hàng chèo kéo khách như nhiều khu di tích khác. Không phải mua vé tham quan di tích, có nước uống phục vụ miễn phí. Những chuyện tưởng nhỏ ấy, nhưng khiến cho ta thấy thật yên bình, không vướng bận chuyện đời, chỉ một lòng thành kính các vua. Đợt này có nhiều du khách đến thắp hương tưởng niệm các vua hơn những lần trước tôi đến. Đối với tôi, việc đầu tiên của đi dự Đại lễ ngàn năm Thăng Long- Hà Nội chính là về đây thắp hương cho các vua nhà Lý, những người có công xây dựng, khai sáng kinh đô Thăng Long xưa".

Ông Nguyễn Thế Phú, Trưởng ban quản lý Khu di tích lịch sử văn hóa đền Đô, cũng không giấu được niềm tự hào: "Nhiều ngày nay, du khách thập phương về thăm đền đông lắm, gấp đôi cùng dịp này năm ngoái. So với dịp lễ hội vào rằm tháng ba hằng năm thì không đông bằng, vì dịp đó có lễ rước kiệu thu hút rất đông hậu duệ của vua và nhân dân tham gia, nhưng cũng đông hơn hẳn các dịp khác trong năm. Chúng tôi dọn dẹp, quét tước, bố trí công việc sao cho sạch đẹp, khang trang nhất. Ban quản lý chúng tôi có 62 người, chia làm 11 tổ thay nhau trực đón khách, hướng dẫn tham quan một cách ân cần, chu đáo nhất. Dịp lễ này, chúng tôi không chỉ trực từ 6 giờ sáng đến 6 giờ tối như thường nhật, mà phục vụ đến khi nào hết khách mới thôi. Tất cả để tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân thành tâm bày tỏ sự tri ân đối với các vị tiên vương".

Ông Nguyễn Thế Phú cho biết thêm, theo sử sách địa phương ghi lại thì ông cũng như hầu hết người dân thuộc 6 dòng họ Nguyễn, Trần, Lê, Ngô, Đỗ, Đặng trong vùng đều là hậu duệ của các vua nhà Lý. Bởi sau khi vua Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi báu cho chồng (năm 1225), xóm làng quê tổ của các vua không tránh khỏi loạn lạc, tiêu điều. Có 6 người họ Lý kịp bỏ làng, thay tên đổi họ sinh sống tại nơi khác, bảo toàn được dòng giống. Mấy trăm năm sau, khi Bình Định Vương Lê Lợi dẹp tan quân Minh xâm lược (năm 1428), đất nước thanh bình, con cháu họ trở về lập lại làng xóm cũ, và được coi họ là 6 cụ tổ (lục tổ) khởi phát từ dòng họ Lý.

Nhưng chuyến về nguồn cảm động nhất là sự việc ngày 18/5/1994 (dịp kỷ niệm 1020 năm ngày sinh Lý Thái Tổ, một người đàn ông Hàn Quốc đến đền Đô, quỳ rạp trước sân Rồng hướng về linh vị tám vị vua nhà Lý mà vái lạy trong nước mắt như mưa. Đó là ông Lý Xương Căn, hậu duệ đời thứ 26 của Hoàng tử Lý Long Tường (hậu duệ đời thứ 31 của vua Lý Thái Tổ), sau 768 năm lưu lạc tại Hàn Quốc (đất Cao Ly cũ) đã tìm về vái lạy tổ tiên.

Những dòng chữ ông Lý Xương Căn ghi vào sổ vàng của đền Đô thật xúc động: "Kính thưa tám vị Tiên vương. Hôm nay, con là Lý Xương Căn, cháu đời thứ 26 của Hoàng thúc Lý Long Tường, hậu duệ của các vị, về đây tưởng niệm công đức của quý Tiên vương. Với nỗi lòng mong nhớ khôn nguôi cội nguồn dòng giống, rồi đây cháu chắt của các vị sẽ lại tìm về nơi đây, được vui mừng khấn vái trước anh linh của quý Tiên vương. Nỗi lòng tưởng niệm đó cũng là đạo lý đương nhiên đối với tổ tiên và hơn nữa xin cầu nguyện các Tiên vương phù hộ cho để quan hệ hữu hảo giữa hai nước được sâu dày hơn nữa. Với tấm lòng cảm động, xúc động không sao ngăn nổi, hôm nay về thăm, cháu chắt cảm nhận niềm vinh quang, vinh dự cũng thấy ấm lòng đối với cuộc hành hương lẻ loi này. Cháu chắt xin thề không bao giờ làm những điều gì tổn thương đến vong linh cao quý của các Tiên vương bằng cả tinh thần và sứ mạng đặc biệt".

Tìm được quê cũ, ông Lý Xương Căn sau đó đưa một đoàn người hơn 100 người họ Lý ở Hàn Quốc, là hậu duệ Hoàng tử Lý Long Tường về trước sân Rồng khóc lạy tổ tông. Họ đã chuẩn bị hàng năm trời mới có thể về thăm quê tổ, dâng cuốn gia phả ghi lại truyền thống hiển hách của họ Lý trên xứ người tại đền Đô, bởi không phải người nào cũng đủ điều kiện kinh tế cho chuyến đi. Đến nay, phần nào tâm nguyện của ông Lý Xương Căn đã đạt được: 6 người trong gia đình ông đã được nhập quốc tịch, cùng sinh sống trên quê hương Việt Nam.

Cũng tại đền Đô, năm 1995, ông Lý Bỉnh Thạnh, hậu duệ của Hoàng tử Lý Dương Côn lưu lạc đến Hàn Quốc từ năm 1136, cũng tìm được cội nguồn.

Con cháu Hoàng tử Lý Long Côn là Lý Nghĩa Mẫn từng làm đến chức tể tướng dưới triều vua Minh Tông nước Cao Ly (năm 1182). Hoàng tử Lý Long Tường cũng được vua Cao Ly phong làm đại tướng quân, ghi bia đá lưu danh vì có công đánh thắng giặc Nguyên Mông (năm 1254). Vậy là triều Lý có hai hoàng tử đến Cao Ly cư trú, và dù trong hoàn cảnh nào, họ cũng đều làm rạng danh nước Việt.

Du khách thăm viếng đền Đô nhân dịp Đại lễ.

Theo ông Nguyễn Thế Phú, mười năm nay ông làm trong ban quản lý khu di tích, mỗi dịp đền Đô có công việc, con cháu của các dòng họ này đều tìm về hương khói. Mà đền Đô thì ngoài ngày lễ hội chính vào tháng 3 âm lịch, còn có 8 ngày giỗ của 8 vị vua, rồi giỗ của Thánh mẫu Phạm Thị, nữ vương Lý Chiêu Hoàng, nguyên phi Ỷ Lan, cùng rất nhiều các danh thần võ tướng hiển hách khác như Đào Cam Mộc, Lý Đạo Thành, Lê Phụng Hiểu, Lý Thường Kiệt… 

Khi chúng tôi ngừng những hồi tưởng trong không khí trầm mặc nghi ngút khói hương của khu thái miếu nhà Lý, bên khoảng sân rộng bên ngoài, trước thủy đình và hồ bán nguyệt đang nhộn nhịp một nhóm người lỉnh kỉnh giàn giáo, gỗ tấm để dựng một sân khấu.

Ông Nguyễn Thế Phú cho biết: "Tối nay sẽ có chương trình văn nghệ, khai mạc cho ngày hội ngàn năm Thăng Long tại đền thờ các vị vua triều Lý. Sẽ có các đoàn quan họ, chèo, tuồng cổ về diễn tại sân khấu này. Ngày 9 và 10/10 là chính hội. Như thường lệ, hội sẽ có các tiết mục truyền thống như chơi tổ tôm điếm, hội thi thơ đền Đô, hát quan họ dưới hồ bán nguyệt, thả chim bồ câu, chơi cờ người, kết hợp với các môn thể thao hiện đại như cầu lông, bóng bàn. Dịp này, các câu lạc bộ đều tổ chức mời khá rộng rãi, tổ chức lớn hơn thường lệ. Tuy so với quy mô tổ chức không lớn như ở Hoa Lư (Ninh Bình), Lam Kinh (Thanh Hóa), nhưng là sự nỗ lực của địa phương phục vụ Đại lễ. Dự kiến lượng du khách tới tham dự sẽ khá đông, hàng ngàn người. Chúng tôi tin rằng, du khách sẽ tiếp tục đến thăm đền Đô ngày một đông hơn, kéo dài từ nay đến Tết. Bởi không chỉ nhân dịp Đại lễ kỷ niệm ngàn năm Thăng Long- Hà Nội thì du khách mới đến đền Đô, mà việc ghi nhớ công đức, ân nghĩa, kính trọng tiền nhân chính là truyền thống đạo lý uống nước nhớ nguồn của người Việt Nam ta".

Vương triều Lý gồm 9 đời vua, tồn tại 216 năm (1009- 1225). Thái Tổ Lý Công Uẩn có công lập ra triều Lý, định đô Thăng Long, khai sáng nền văn minh Đại Việt. Khi vua Lý Thái Tổ băng hà, linh cữu được an táng tại quê hương Cổ Pháp, con trưởng là vua Lý Thái Tông tu dựng vào ngày 3/3/1030.

Có 8 vị vua được thờ ở thái miếu tại hương Cổ Pháp, nên đền có tên là đền Lý Bát Đế, hoặc Cổ Pháp Điện. Trong tâm thức người Việt, kính thờ nhà vua khi đã mất cũng như trung với vua khi ngài tại vị, nên khu thái miếu này còn được gọi là "đế đô", "kinh đô", khởi phát của tên gọi đền Đô hiện nay.

Trải qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử, đặc biệt là giặc Minh xâm lược tàn phá, đền đã bị hủy. Năm 1507, đất nước thanh bình, nhân dân địa phương và con cháu lưu lạc của dòng họ Lý đã xây dựng lại đền. Đến năm 1602, vua Lê Kính Tông đã sai chúa Trịnh Tùng chủ trì trùng tu lại, với quy mô nguy nga, lộng lẫy, cùng nhiều công trình to lớn khác nhau. Lại sai Trạng nguyên Phùng Khắc Khoan soạn văn bia "Cổ Pháp điện tạo bi" (làm bia đền Cổ Pháp) để thể hiện sự ngưỡng mộ với công đức của vương triều Lý và nêu trách nhiệm của hậu thế với các tiền nhân và thời cuộc. Bia đá đến nay vẫn còn, được lưu giữ như bảo vật, ghi dấu sự kiện nhân văn và hiếm gặp trong lịch sử phong kiến: vương triều này trân trọng tôn vinh, gìn giữ thái miếu cho vương triều khác.

"Tôi được biết, Hà Nội có 5 tuyến xe buýt phục vụ miễn phí cho nhân dân trong dịp Đại lễ ngàn năm Thăng Long- Hà Nội. Nên chăng, các cơ quan chức năng cân nhắc mở thêm tuyến xe buýt miễn phí đến đền Đô, chỉ cách Hà Nội chưa đầy 20km, để nhân dân có thể thuận tiện đến thắp hương tưởng niệm các vua nhà Lý, những người đã có công lớn trong dịp định đô Thăng Long và xây dựng nước ta thuở trước"- Chị Trịnh Hồng Loan (44/505 Trần Khát Chân, Hà Nội).

Lê Quân
.
.
.