Liệt sỹ người Nhật Bản mang tên Việt

Chủ Nhật, 20/07/2008, 21:20
Cuối năm 1946, đầu 1947, bác sĩ Lê Trung được điều động sang quân đội, làm quân tình nguyện trong Trung đoàn 101, Sư đoàn 325, chiến đấu ở mặt trận Banaphào (Lào). Ông cứu chữa cho các thương binh với tất cả lương tâm trong sáng, tận tụy của người thầy thuốc. Có lần, ông đã cõng trên vai một chiến sĩ bị thương nặng suốt 4 ngày đêm, vượt đường dốc, rừng sâu từ Puturu để về Banaphào cứu chữa...

Các cụ ông, cụ bà tuổi ngoài 70 ở Bảo Ninh, Đồng Hới, Quảng Bình kể lại rằng, một đêm đầu tháng 8/1945, có một chiếc ca nô từ ngoài khơi đâm nhào vào bãi cát ven biển Nhật Lệ của xã Trường Sa (tên gọi của xã Bảo Ninh thuở đó). Lực lượng tự vệ do Chủ tịch Việt Minh xã là Phạm Khuôn Tương chỉ huy đã kịp thời có mặt.

7 người trên ca nô toàn là lính Nhật, xin cơm ăn và nước uống. Đó là những lính Nhật phản chiến, đã cướp ca nô từ tàu thuỷ trên đường chuyển quân. Họ đã tự giác giao nộp toàn bộ vũ khí mang theo cho chính quyền cách mạng địa phương. 7 người lính của quân đội Nhật Hoàng phản chiến ấy được đưa về chăm sóc, bảo vệ.

Cụ Nguyễn Tú, nguyên cán bộ tiền khởi nghĩa, cư trú ở phường Đồng Sơn, Đồng Hới, nhà hoạt động văn hóa xuất sắc của Quảng Bình, cho tôi biết: thời gian đó, ông là cán bộ tổ chức và chỉ huy đội tự vệ chiến đấu chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền ở Đồng Hới.

Được tin, cụ dẫn một người biết tiếng Nhật về gặp đoàn lính Nhật phản chiến này. Trong số 7 người lính Nhật cướp ca nô phản chiến ấy có 2 sỹ quan. Họ không muốn đầu hàng quân đồng minh để tiếp tục đi làm bia đỡ đạn mà tìm về với lực lượng Việt Minh, đợi hoà bình, sẽ trở lại với tổ quốc Phù Tang của mình.

Hai sỹ quan của Nhật bập bẹ nói được tiếng Việt nên các cụ đồ nho trong làng đặt tên cho là Ngọ và Mùi. "Ngọ" là mặt trời đỉnh điểm (12h trưa). "Mùi" là mặt trời đã xế (khoảng 13h). Cái tên đó vừa chỉ tuổi của một người (Mùi) cao hơn người kia (Ngọ). Song, thâm thuý ở chỗ, các cụ muốn nói đến chủ nghĩa quân phiệt của đất nước Mặt trời mọc (nước Nhật) từ Ngọ đã sang Mùi (tức đã suy).

Những ngày toàn quốc sục sôi không khí cướp chính quyền ở Quảng Bình, 2 chiến sỹ Ngọ và Mùi này được Việt Minh xã Trường Sa sử dụng để phục vụ chiến sự. Ông Ngọ là sĩ quan bộ binh, được dùng dạy cho võ thuật anh em tự vệ. Ông Mùi là bác sĩ nên được dùng trong điều trị, chữa bệnh cho bà con và các chiến sĩ. Năm người lính Nhật còn lại là những huấn luyện viên, chuyên lo các yếu lĩnh, đội hình, đội ngũ cho tự vệ, dân quân.

Ngày 23/8/1945, cách mạng giành chính quyền đã nổ ra ở tỉnh lị Quảng Bình. Những người lính Nhật phản chiến ấy đã đứng trong đội ngũ Việt Minh Quảng Bình đi thị uy và chiếm giữ các trụ sở của Nhật và tay sai.

Cách mạng tháng Tám Việt Nam vừa thành công thì giặc Pháp gây hấn ở Nam Bộ. "Tiến lên đường ! Tiến lên đường! Mau bước chân ra chốn sa trường, ta mau mau làm cảm tử quân...!". Lời bài hát của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước diễn tả và thôi thúc hàng triệu thanh niên trai trẻ nhập quân Nam tiến, bảo vệ độc lập của Tổ quốc.

Trong đoàn quân Nam tiến của Đồng Hới, Quảng Bình, những người lính Nhật phản chiến đã vai vác súng, lên tàu tại nhà ga Thuận Lý, cùng đứng trong đội ngũ những người lính của nước Việt Nam đi bảo vệ độc lập của đất nước mình. 5 người Nhật không phải là sĩ quan ấy vào mãi các tỉnh miền đồng bằng sông Cửu Long.

Còn ông Ngọ thì được điều vào tỉnh Quảng Ngãi, riêng ông Mùi, một quân y có tài được ông Hoàng Văn Diệm, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính Quảng Bình giữ lại và sung vào hàng ngũ cán bộ Việt Minh. Chính ông Hoàng Văn Diệm đặt một cái tên Việt Nam cho ông Mùi là Lê Trung (nghĩa là trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin) để làm hồ sơ cán bộ.

Mộ liệt sỹ Lê Trung tại Nghĩa trang Ba Dốc - Đồng Hới.

"Bác sĩ tỉnh trưởng Lê Trung", cái tên ấy ở Quảng Bình thời kỳ kháng chiến đó ai cũng đều biết đến. "Bác sĩ tỉnh trưởng Lê Trung" được điều về làm việc tại Bệnh viện huyện Quảng Trạch, đóng ở Trung Thuần. Trong hoàn cảnh thiếu thốn trăm bề nhưng ông Lê Trung vẫn đồng cam cộng khổ với mọi người để làm việc. Ông đã cứu chữa nhiều bệnh nhân mang nhiều chứng bệnh hiểm nghèo.

Cuối năm 1946, đầu 1947, bác sĩ Lê Trung được điều động sang quân đội, làm quân tình nguyện trong Trung đoàn 101, Sư đoàn 325, chiến đấu ở mặt trận Banaphào (Lào). Ông cứu chữa cho các thương binh với tất cả lương tâm trong sáng, tận tụy của người thầy thuốc. Có lần, ông đã cõng trên vai một chiến sĩ bị thương nặng suốt 4 ngày đêm, vượt đường dốc, rừng sâu từ Puturu để về Banaphào cứu chữa.

Hành động nhân đạo và tận tụy vì trách nhiệm đó đã làm xao động trái tim một cô gái tuổi 26 tên là Hoàng Thị Kim Huê, người phụ trách công tác uý lạo và tiếp vận, kiêm luôn y tá của mặt trận. Chị Hoàng Thị Kim Huê quê ở Nha Trang được giác ngộ đi theo cách mạng rất sớm. Chị có người yêu là một chiến sĩ cách mạng quê ở Quảng Bình.

Năm 1939, anh hy sinh, chị tìm về quê người yêu thăm viếng. Rồi chị bắt liên lạc với cơ sở cách mạng tại Quảng Bình và tình nguyện ở lại đây để tiếp tục sự nghiệp của người yêu mình. Chính chị Hoàng Thị Kim Huê sau đó đã thành một chiến sỹ trong trung đoàn tình nguyện quân của Việt Nam chiến đấu trên đất nước Triệu voi.

Vượt qua những mặc cảm, Lê Trung và Hoàng Thị Kim Huê đã thành vợ, thành chồng. Họ vừa công tác vừa chung sống với nhau rất hạnh phúc. Chưa tròn năm thì một sự kiện không may đã đến với họ. Bác sĩ Lê Trung mắc một chứng bệnh, đó là viêm tiết niệu cấp. Trong kháng chiến, nơi mặt trận xa  xôi, thiếu thuốc men, thiếu người phẫu thuật, sau 3 ngày đau vật vã, ngày 1/10/1948, người sĩ quan quân đội Nhật hoàng phản chiến và trung thành đi theo Việt Minh kháng chiến chống Pháp, tình nguyện quân chiến đấu tại Lào ấy đã trút hơi thở cuối cùng tại mặt trận Panaphào trên đất nước Triệu voi.

Lúc này, vợ ông là bà Hoàng Thị Kim Huê đang có thai 3 tháng. Sau khi chồng mất, bà Hoàng Thị Kim Huê được điều về làm việc tại Bệnh viện Đồng Lào thuộc huyện Tuyên Hoá (Quảng Bình). Tại đây, bà sinh con gái, giọt máu Việt - Nhật. Bà lấy họ chồng, họ mình và chữ đầu của huyện nơi bà sinh nở để đặt tên cho con, đó là: Lê Hoàng Tuyên. Đơn vị cũng đã dời mộ của bác sĩ Lê Trung về Tổ quốc, an táng tại Tuyên Hoá theo đề nghị của bà Hoàng Thị Kim Huê.

Quảng Bình kháng chiến trên đường thắng lợi. Bà Hoàng Thị Kim Huê đã "Hạ sơn" cùng lực lượng kháng chiến, chuẩn bị cho giai đoạn "tổng phản công". Lúc này bà được điều về làm chính trị viên cho bệnh viện quân đội dã chiến, đóng tại Bến Tiêm của huyện Quảng Ninh (Quảng Bình). Sau đó, theo yêu cầu, bà được điều về Bệnh viện Ba Lòng (Quảng Trị). Sau ngày hoà bình lập lại (năm 1954), bà được cử đi học Trường Nguyễn Ái Quốc và về làm Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Quảng Bình.

Năm 1960, bà tái hôn với đồng chí Trần Đồng, Bí thư Khu uỷ Vĩnh Linh rồi về làm Phó Ty Y tế đặc khu Vĩnh Linh. Người con gái duy nhất của bà, chị Lê Hoàng Tuyên, được Nhà nước chăm lo giáo dục, sau đó cử đi học Đại học tại Cộng hoà Dân chủ Đức. Về nước, chị Lê Hoàng Tuyên được phân công làm việc tại Viện Quy hoạch Bộ Xây dựng. Mấy năm sau, chị bị mắc một chứng bệnh hiểm nghèo và qua đời tại Hà Nội.

Sau ngày đất  nước thống nhất (năm 1975), bà Hoàng Thị Kim Huê về sống trên quê hương Nha Trang và làm việc tại Xí nghiệp Nước khoáng Đảnh Thạnh (Phú Khánh). Bà đã viết đơn đề nghị Bộ Ngoại giao và Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam tìm kiếm quê hương, họ hàng thân thích của chồng bà là bác sĩ Lê Trung. Nhưng mãi vẫn chưa có kết quả.

Ông Lê Trung sau gần 50 năm hy sinh vì sự nghiệp giải phóng Tổ quốc Việt Nam, vẫn chưa được công nhận là liệt sỹ, do vậy, bà Hoàng Thị Kim Huê vượt qua bao nhiêu vất vả, đã gặp các thủ trưởng cũ của chồng mình như ông Đồng Sỹ Nguyên, ông Hoàng Văn Diệm, ông Phan Khắc Hy... để xin chữ ký và những lời yêu cầu.

Mãi đến ngày 22/8/1997, bác sĩ quá cố Lê Trung mới được công nhận là liệt sỹ. Và ngày 15/12/1997, hài cốt bác sĩ Lê Trung đã được đồng đội, người thân đưa về cải táng tại nghĩa trang liệt sỹ Quảng Bình ở Ba Dốc (Đồng Hới). Đó là liệt sỹ người nước ngoài đầu tiên được an nghỉ tại đây.

Bà Hoàng Thị Kim Huê đã qua đời năm 1999 do bị bệnh xuất huyết não. Bà đã mãn nguyện bởi một việc làm thiêng liêng và đầy ý nghĩa với người chồng quốc tịch Nhật của mình. Nhưng còn 6 người lính Nhật phản chiến năm xưa trên đất Bảo Ninh, Đồng Hới, thì giờ đây đang ở đâu, cả bà và mọi người cũng không ai biết được.

Chúng tôi muốn có thông tin của những ai biết được tung tích 6 người còn lại của đất nước Phù Tang đã cống hiến phần đời thanh xuân của mình cho độc lập tự do của đất nước Việt Nam, ai mất, ai còn và đang ở đâu? Đó là một việc làm đầy trách nhiệm của lương tri

Hồ Ngọc Diệp
.
.
.