Lăng mộ Nguyễn Tri Phương tại Thừa Thiên - Huế bị đào bới

Chủ Nhật, 26/08/2007, 14:40
Chiều 23/8, người dân làng Đại Phú, xã Phong Chương, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế phát hiện lăng mộ của danh tướng Nguyễn Tri Phương (có niên đại trên 130 năm, được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận Di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia năm 1990) bị đào bới nghiêm trọng.

Qua xác minh, Công an tỉnh Thừa Thiên - Huế cho biết, hiện trường có 3 vết đục sâu vào thành lăng và nấm mộ, trong đó 1 vết đục sâu 1,3 mét, chu vi 60cm x 75cm, lấy đi lượng cát lớn trong mộ.

Theo sử liệu, Nguyễn Tri Phương có tên là Nguyễn Văn Chương, sinh ngày 21/7 năm Canh Thân 1800, quê làng Đường Long, xã Chánh Lộc, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế, nay là làng Đại Phú, xã Phong Chương, huyện Phong Điền (Thừa Thiên - Huế).

Nguyễn Văn Chương xuất thân trong một gia đình làm ruộng và nghề thợ mộc. Nhà nghèo, lại không xuất thân từ khoa bảng, song nhờ ý chí tự lập nên ông đã làm nên sự nghiệp lớn. Năm Quí Mùi 1823, vua Minh Mạng đề bạt ông làm Điển bộ (tức Bí thư ở Nội điện).

Năm 1835, Nguyễn Văn Chương nhận lệnh vua Minh Mạng vào Gia Định cùng Trương Minh Giảng bình định các vùng mới khai hoang. Nhờ trí thông minh, lại rất quan tâm, đùm bọc và lo lắng cho nhân dân nên được nhân dân hết lòng ủng hộ, sớm hoàn thành tốt công việc và được vua Minh Mạng thăng hàm Thị lang.

Trong triều, Nguyễn Văn Chương mạnh dạn chống lại những hành động xấu xa của các đại thần. Năm 1837, ông bị ép giáng xuống làm thơ lại ở Bộ Lại. Cuối năm đó, ông được khôi phục hàm Chủ sự, sung chức Lang trung. Năm sau thăng Thị lang Bộ Lễ, năm 1839 thăng hàm Tham tri, làm việc ở Nội các.

Năm Canh Tý 1840, Nguyễn Tri Phương được bổ làm Tuần phủ Nam Nghĩa, trông coi bố phòng cửa biển Đà Nẵng. Công việc hoàn thành tốt đẹp, ông được triệu về kinh thành, thăng Tham tri Bộ Công, được vua Thiệu Trị cử làm Tổng đốc An Hà, An Giang, Hà Tiên.

Tại đây, ông dẹp tan các toán giặc cướp nước vào quấy phá. Ông được bổ chức Tổng đốc Long Tường Vĩnh Long, Định Tường, kiêm Khâm sai quân thứ đại thần, hàm Tòng Hiệp Biện Đại học sĩ, rồi được thưởng danh hiệu "An Tây trí dũng tướng".

Năm 1845, ông cùng với Doãn Uẩn đánh bại quân Xiêm La, bình định Cao Miên, ổn định hoàn toàn vùng biên giới Tây Nam của miền Tây Nam Bộ.

Tháng 5/1847, ông được triệu về kinh, thăng hàm Chánh Hiệp biện đại học sĩ, lãnh Thượng thư Bộ Công, tước Tráng Liệt tử và được ban một Ngọc bài có khắc bốn chữ "Quân kỳ thạc phụ", được chép công trạng vào bia đá ở Tòa Võ miếu Huế.

Sau khi vua Thiệu Trị mất, ông được đình thần tôn làm Phụ chính Đại thần (theo di chiếu của nhà vua). Năm Mậu Thân 1848, vua Tự Đức phong tước Tráng Liệt bá cho ông. Năm Canh Tuất 1850, vua Tự Đức chuẩn phê cải tên ông là Nguyễn Tri Phương.

Từ đó tên Nguyễn Tri Phương trở thành tên chính của ông. Sau đó, ông được sung chức Khâm sai Tổng thống Quân vụ Đại thần kiêm Tổng đốc các tỉnh Gia Định, Biên Hoà, Vĩnh Long, An Giang… Năm 1853, ông được thăng Điện hàm Đông các Đại học sĩ, rồi lãnh chức Kinh lược sứ Nam Kỳ.

Trong thời gian này, ông có công lập được nhiều đồn điền, khai khẩn đất hoang, dân cư ở địa phương, nhờ đó được an cư lạc nghiệp... Dưới thời nhà Nguyễn, ông là một đại danh thần, là vị Tổng chỉ huy Quân đội triều đình chống lại thực dân Pháp xâm lược lần lượt ở các mặt trận Đà Nẵng năm 1858, Gia Định năm 1861.

Tháng 11/1873, quân Pháp đánh thành Hà Nội, Tổng đốc Nguyễn Tri Phương chỉ huy chống trả quyết liệt, bị thương nặng và bị bắt. Khước từ mọi dụ dỗ của kẻ thù, ông tuyệt thực cho đến chết. Ông được triều đình đưa về an táng, xây lăng thờ cúng tại quê hương là làng Đại Phú ngày nay

Phan Thanh Bình
.
.
.