Làng đúc nhôm
Một nghề hái ra tiền
Ấn tượng với tôi khi đến làng nhôm Mẫn Xá là một mùi khét quyện với mùi hôi bốc ra từ những lò nung nhôm khi họ đưa quặng nhôm vào để chế biến. Những chiếc ôtô lớn nhỏ hoặc chở phôi nhôm đã hoàn thiện đem đi xuất khẩu, hoặc chở than, quặng nhôm, nhôm phế liệu để mang về chế biến.
Tất cả tạo nên một không khí hết sức khẩn trương và náo nhiệt. Những lò nhôm san sát nhau vẫn ngày đêm toả nhiệt, đỏ lửa, những người lao động đang làm việc bên những cái lò nóng cháy da... tất cả điều đó làm nên bộ mặt một làng nhôm của thời hiện đại với việc chế biến rất đỗi thủ công.
Tôi vào một nhà có đống vỏ lon chất kín một khoảng sân rộng và lò cũng đang đỏ lửa. Khi đó những công nhân làm thuê đang múc từng gáo nhôm nung chảy trong lò đổ vào khuôn. Thi thoảng họ lại đảo ra sân hóng gió.
Tôi hỏi chuyện anh Điền, một người làm thuê đến từ làng Trác Bút, thị trấn Chờ (Yên Phong). Khuôn mặt anh nhem nhuốc mồ hôi và bụi than cũng như bụi nhôm, mồ hôi nhỏ tong tỏng từ cằm xuống.
Ban đầu có vẻ mệt không muốn nói, sau thấy tôi gợi ra được sự vất vả của một người thợ, như tìm thấy người đồng cảm, anh nhiệt tình thổ lộ. Anh Điền nói rằng, một người đúc như anh được trả lương 60 ngàn đồng/ngày, người có thâm niên làm nhanh có thể được trả 100 ngàn/ngày.
Công việc cả ngày phải tiếp xúc với lò lửa ở nhiệt độ cao, lại không có bảo hộ lao động, cho nên da dẻ cháy sạm, có ăn nhiều cũng không lại được sức nóng. Mùa đông còn đỡ, mùa hè nhiệt độ cao thì thật là khủng khiếp.
Được biết, ở Mẫn Xá có khoảng 530 hộ dân thì có đến 75% dân số theo nghề này. Khoảng 100 lò luyện của 100 ông chủ, còn những người khác hoặc làm thuê, đi thu mua nhôm phế thải, vỏ lon bia, nước ngọt, người khác làm công việc chuyên chở, kinh doanh...
Khoảng 20 năm nay, công việc này đã tạo nên bộ mặt mới cho làng, nhiều ông chủ giàu có bứt lên như bố con ông Mẫn Hồng Anh, Mẫn Anh Cần, doanh nghiệp Bốn Vinh... Nhiều nhà cao tầng mọc lên sừng sững trên mảnh đất vốn thuần nông Văn Môn.
Theo anh Trần Văn Bốn, chủ doanh nghiệp Bốn Vinh thì đây cũng là một nghề hái ra tiền nếu biết cách làm, chí ít thì cũng có của ăn của để.
Quá khứ không vừa lòng và môi trường ô nhiễm
Xưa kia Mẫn Xá có nghề đúc xoong, chậu, mâm nhôm... Nhưng từ khi đồ inox ra đời thì nghề đúc xoong nồi, mâm chảo ở đây gần như không còn nữa. Tất cả chuyển sang cô đúc phôi nhôm.
Xưa kia, người Mẫn Xá lang bạt khắp nơi bằng xe đạp, đi đến đâu cũng kéo theo mấy người cùng với đồ nghề. Đi đến mỗi vùng đều ngỏ ý nhờ vả ở một gia đình có địa thế thuận lợi về đường đi, rồi hạ khuôn, hạ cát, nồi nấu và tất cả đồ nghề lại "đóng đô" ở đó mấy ngày. Thời gian phụ thuộc vào khách ở vùng đó, nếu đông người nhờ đổ xoong nồi thì họ sẽ ở lại lâu.
Khách là những người dân có xoong nồi, chậu... hỏng, đến nhờ thợ đúc nấu và đúc thành sản phẩm, thợ đúc sẽ lấy tiền công, nếu thiếu nhôm thì người ta sẽ bù, hoặc họ sẽ bán thêm nhôm. Thường thợ đúc nhôm luôn mang bên mình những miếng nhôm sẵn có, để có thể bù cho khách bất cứ lúc nào. Khi không còn khách họ sẽ "nhổ neo" và chuyển đến vùng khác.
Cuộc sống như vậy cũng vất vả cùng cực. Quanh năm sống trên đất người như vậy cũng không làm cho người Mẫn Xá giàu lên được. Nhiều người mệt mỏi quá đã bỏ nghề, trở về với ruộng đồng và những gánh lúa, chỉ lúc nông nhàn mới đi làm kiếm thêm tiền chi tiêu vặt.
Mãi cho đến những năm 1988 khi đồ inox phát triển mạnh, lấn át làng nghề, người dân chuộng dùng đồ inox thì nghề đúc xoong nồi thuê không còn khả năng để sống nữa. Họ nghĩ ra cách thu mua nhôm phế thải về nấu, làm phôi rồi xuất cho các ông chủ trong nước.
Chẳng bao lâu, một vài ông chủ "đánh hơi" được tìm về, thu mua phôi nhôm rồi xuất đi nước ngoài. Từ đó, một cơ hội làm giàu mới được người dân chớp lấy. Họ cắt cử người đi thu mua nhôm phế thải, vỏ lon về nấu. Sau này, làng có đội ngũ những người đi thu mua chuyên nghiệp.
Cả làng nô nức làm giàu, ruộng đồng được họ "chuyển giao" cho những thôn bên cạnh làm gần hết, lại thuê người về làm thuê cho mình để giảm bớt sự vất vả. Những xưởng đúc được dựng nên, công nhân làm thuê ngày càng đông, sản phẩm làm ra ngày càng nhiều và lãi lớn.
Cùng với sự phát triển kinh tế, làm nên bộ mặt mới của làng quê, nhưng Mẫn Xá cũng phải gánh chịu hậu quả từ môi trường. Đây là một hậu quả của phần lớn những làng nghề không chú ý đến vấn đề xử lý chất thải và làm trong sạch nguồn không khí. Người chịu hậu quả trước hết là những công nhân làm thuê, trực tiếp tiếp xúc cả ngày trong lò, những khối quặng và chất thải. Nhiều người làm thuê đã mắc bệnh về đường hô hấp và nhiều người khác nhiễm bệnh ung thư mà nguyên nhân được xác định là do nhiều năm đi đúc thuê tại những xưởng đúc lớn.
Khắp làng Mẫn Xá không thể tìm nổi nơi nào để có thể hít một hơi thật sâu. Tới đâu cũng nồng nặc mùi quặng, mùi khăm khẳm của phế liệu từ các nơi đổ về. Mái ngói nhà nào cũng phủ đầy bụi đen. Sáng sáng, những lò đúc nhôm thi nhau nhả khói mịt mù, tạo thành một lớp sương mù dày đặc bao trùm khắp làng.
Môi trường bị ô nhiễm nặng, hầu hết những người làm nghề đều biết cả. Vì miếng cơm manh áo, cả chủ lẫn thợ đều tặc lưỡi: "sống chết có số" rồi vẫn lao đầu vào công việc ngày này qua ngày khác.
Tiếng ho của người thợ bên lò đúc
Anh Điền là chàng trai trẻ chưa vợ, sức vóc khoẻ mạnh và mới làm thuê được hơn một năm trời, nhưng da dẻ anh đã đen sạm. Thi thoảng anh mới được ra ngoài hóng mát để đợi cho nồi nấu chảy nhôm rồi múc ra khuôn. Cho nên để nói chuyện với tôi, anh phải chạy đi chạy lại.
Làm cùng xưởng với anh là chị Đỗ Thị Túc, người cùng làng. Công việc của chị nhẹ hơn anh Điền vì chị là phụ nữ, chuyên lo việc chuẩn bị than làm chất đốt, phân loại quặng và làm sạch vỏ lon.
Chị thổ lộ: "Nghề này nói là có bát ăn bát để, nhưng cũng vất vả lắm. Chỉ sướng những ông chủ thôi chứ người làm công như bọn chị chỉ sướng hơn người gánh gạch một tí, là làm nhẹ nhàng hơn. Nhưng em thấy đấy, da dẻ chị bị than ám đen thế này, về chồng còn chê nữa đấy, khổ lắm. Nhưng vẫn phải cố chứ biết làm thế nào được".
Vừa nói chị vừa tháo găng tay, xắn gấu áo lên cho tôi xem tay và vai, chẳng chút ngại ngần. Chị Túc chừng hơn 30, cái tuổi chưa già, nếu là người bình thường thì hẳn da dẻ vẫn mỡ màng lắm, đằng này nó bị ám đen do nắng nóng.
Tôi đứng vào chỗ anh Điền đang múc nước nhôm nung chảy đổ vào khuôn, cảm thấy nóng nực và rát mặt không chịu nổi. Vậy mà anh vẫn phơi mặt cả ngày trước cái nóng mà không có cái khẩu trang đeo lên mặt. Hỏi thì anh bảo làm vậy nó vướng víu khó chịu. Thi thoảng, từ miệng anh phát ra tiếng ho cháy cổ, tôi biết, là do anh hít bụi than và bụi nhôm vào phổi.
Anh Điền và chị Túc chỉ là hai trong số hàng trăm người làm việc trong các lò đúc nhôm ở Mẫn Xá. Có bao nhiêu người có bảo hộ lao động và tránh được hiểm họa từ nghề?
Làm giàu lương thiện bằng bàn tay của mình là tốt, đáng trân trọng, nhưng cũng cần phải tính đến những hiểm họa, chứ đừng để giàu có đồng hành với bệnh tật, thì sự giàu có đâu nghĩa lý gì
