Hà Giang: “Giải cứu” miền đá khát
Mùa khô các huyện cao nguyên núi đá Đồng Văn, Mèo Vạc, Quản Bạ, Yên Minh tỉnh Hà Giang rất thiếu nước. Bởi, với cao nguyên đá mùa khô kéo dài từ 3 đến 4 tháng và nhu cầu nước sinh hoạt phục vụ đời sống và sản xuất đang là một trong những thách thức lớn nhất đối với các huyện cao nguyên đá Hà Giang.
Khô khát quá miền đá ơi
Điều làm đoàn chúng tôi áy náy mãi là hình ảnh các thầy cô giáo Trường cấp 1, 2 xã Tả Lủng, huyện Đồng Văn trách khéo: "Thật tiếc, không biết các anh, chị có xe ôtô vào xã để nhờ chở mấy can nước uống từ ngoài huyện vào, tiếc quá anh ạ". Thầy giáo Nguyễn Thanh Giang, Phó Hiệu trưởng Trường cấp 1,2 Tả Lủng phân trần với tôi.
Giá như không phải mua 8 nghìn đồng một can nước thì mỗi ngày trường có thêm được 64 ngàn đồng mua thêm rau xanh vào bữa ăn cho các em học sinh bán trú. Thầy Giang nói với tôi. Bình quân mỗi ngày nhà trường dùng hết 8 can nước loại 20 lít, để đảm bảo nhu cầu nước nấu ăn, nước uống cho thầy và trò nhà trường. Giá như và giá như! Câu nói ấy của thầy giáo Giang làm tôi ám ảnh mãi về miền đất khắc nghiệt này. Mà chung cả cao nguyên đá là thế, thiếu nước sinh hoạt đâu chỉ có riêng Tả Lủng.
Tới nhiều xã của hai huyện vùng cao núi đá Đồng Văn, Mèo Vạc chỉ thấy đá và đá bạt ngàn. Cảnh thiếu nước sinh hoạt luôn hiện hữu khắp vùng cao nguyên, thực tế có trên 90% đồng bào vùng cao núi đá phía Bắc của tỉnh thiếu nước sinh hoạt vào mùa khô. Tỉnh Hà Giang đã thực sự cố gắng trong việc giải quyết nước sinh hoạt. Bằng chứng là tỉnh đã hỗ trợ các gia đình xây bể trữ nước. Tuy nhiên, liệu pháp này vẫn chỉ là bể chứa nước, chưa đáp ứng được việc cung cấp nước, bởi nguồn nước nơi cao nguyên đá quá ít vào những tháng mùa khô.
Chúng tôi đến bản Xả Lủng, xã Tả Lủng, huyện Đồng Văn, mới thấy cảnh thiếu nước đối với người dân nơi đây thực sự gian khổ nhường nào. Nước ăn còn không đủ chứ nói gì đến tắm giặt hở các chú, ông Thào Mí Giàng phân trần với tôi. Nhìn mấy đứa cháu của ông do lâu ngày không được tắm, ghét cáu lại trên tay, chân trông thật thương! Biết làm sao được, tất cả là thiếu nước mà. Ông Giàng xua xua tay gạt những sợi tóc bạc trên trán. Rồi buông lời. Cao nguyên mùa khô hạn là vậy, nhưng đồng bào mình mãi không bỏ cao nguyên mà đi đâu. Đến mùa mưa cao nguyên lại hồi sinh mà.
Công nghệ "hồ treo"
Đúng là niềm vui cho miền đất khát! Tôi cầm trên tay bản vắn tắt đề tài "Điều tra nghiên cứu các nguồn nước cacxtơ khu vực Nà Phạ (xã Mậu Duệ - huyện Yên Minh) lựa chọn, thiết kế mô hình khai thác". Đề tài được xếp vào loại xuất sắc của Tiến sỹ khoa học Vũ Cao Minh, Viện Địa chất, TTKHTN&CN quốc gia. Có lẽ, những người vui nhất chính là đồng bào cao nguyên đá. Bởi, với họ nước chính là yếu tố sống còn để sinh sống và phát triển trên miền đất địa đầu Tổ quốc.
Giải pháp về công nghệ hoàn thiện quy trình cung cấp nước và trữ nước trong mùa khô hạn. Giải pháp mang ý nghĩa lớn trong phát triển kinh tế - xã hội của các huyện vùng cao núi đá. Trong những năm qua, với công nghệ này, tỉnh Hà Giang đã triển khai thăm dò và xây dựng thử nghiệm "hồ treo" Xà Phìn tại bản Xà Phìn B, xã Xà Phìn, huyện Đồng Văn, với dung tích khoảng 3.000m3, bằng các giải pháp kỹ thuật đáy và thành hồ được gia cố, đảm bảo không bị đục hoặc thẩm thấu. Hồ được xây dựng ngay cạnh đường đi Đồng Văn, có hình trái tim được thiết kế rất thẩm mỹ và hiệu quả. Việc thử nghiệm hồ Xà Phìn thành công đã tạo động lực cho các nhà khoa học tiếp tục đề xuất xây dựng công trình hồ treo Tả Lủng vào năm 2005 tại xã Tả Lủng, huyện Mèo Vạc. Hồ có dung tích 3 vạn mét khối.
Để tạo mặt bằng của đáy hồ, những người xây dựng đã phá, nổ hơn 1.000m3 đá vôi, hàng chục giếng, hang ngầm có đường kính từ 0,5 đến 1m, sâu từ 5-10m được san lấp và gia cố bằng vật liệu chống thấm. Xây dựng đập chắn nước cao 5m, rộng 3m, dài hơn 50m bằng đá tảng. Với việc tạo dáng hồ như vầng trăng khuyết, biến hồ treo như một hạt ngọc trong xanh giữa cao nguyên bạt ngàn đá.
Theo tính toán của chuyên gia Viện Địa chất học nếu tận dụng tất cả các điều kiện tự nhiên, đặc điểm thành phần vật chất của các địa tầng, các tầng cấu trúc địa chất, địa hình, thuỷ văn, địa chất công trình. Bằng công nghệ "hồ treo" có thể cung cấp nước cho tất cả người dân sống trên cao nguyên đá có thể sử dụng bình quân mỗi ngày 150 lít nước/người/ngày. Và hiệu quả tất nhiên là sẽ cải thiện được nguồn nước sinh hoạt và sản xuất cho người dân.
Nói về những thành công của công nghệ hồ treo mà người dân Đồng Văn được hưởng lợi. Chủ tịch huyện Đồng Văn, ông Sùng Đại Hùng cho biết: Với giải pháp xây dựng hồ chứa nước này, trong những năm tới, khi khảo sát những địa điểm có nguồn nước để xây dựng hồ treo, sẽ góp phần quan trọng trong việc giải quyết nước sinh hoạt và sản xuất cho đồng bào.
Cao nguyên mùa reo hạt, những nương ngô vươn mình, lá xanh biêng biếc như nét chấm phá giữa bạt ngàn núi đá xám xịt, tương phản một sức sống diệu kỳ. Cao nguyên mùa khô rất cần nước. Vâng! nước là phần tất yếu của cuộc sống mà những hồ treo bên những cung đường tôi đi qua, đang ngày đêm tích trữ những giọt nước ngầm quý giá cho người dân cao nguyên. Đúng vậy, công nghệ hồ treo, ngoài sự ghi nhận về một giải pháp khoa học công nghệ, nó đã và đang góp phần "giải cứu" cho miền đất khát cao nguyên đá Hà Giang
