Giữ gìn nghĩa trang cụ Phan Bội Châu tại Thừa Thiên - Huế

Thứ Tư, 19/04/2006, 13:32

Loay hoay mãi tôi mới gọi được người mở cửa cho đi nhờ vào Khu di tích lịch sử lưu niệm danh nhân Phan Bội Châu, còn gọi là nghĩa trang Phan Bội Châu tại số 5 đường Thanh Hải, phường Trường An (TP Huế). Ông cụ "giám đốc" nghĩa trang 71 tuổi quên mang kính, hé cổng vừa đủ để... nhìn từ đầu đến chân và hơn 10 phút trôi qua, tôi được trả lại giấy tờ cùng với một cái... gật đầu!

Khu di tích lịch sử lưu niệm danh nhân Phan Bội Châu hay nghĩa trang Phan Bội Châu có diện tích khoảng 10.000m2, cổng chính trổ ra đường Thanh Hải; hai cánh cổng sắt hoen gỉ được khóa trái bằng một đoạn xích… xe máy, mặt đất lưu cữu rêu phong, cỏ rác và lá khô 4 mùa. Nghĩa trang nằm trên tuyến đường "du lịch" đi về các lăng tẩm vua chúa triều Nguyễn, chỉ cách đường Điện Biên Phủ vài chục mét nhưng trông  âm u như một ngôi chùa trong sách cổ. Cổng ra vào tuyệt không có dấu chân người!

Ông Lê Văn Thế, người quản trang tự nguyện từ năm 1939 đến nay nói: "Khách đến đây gồm nhà văn, nhà báo! Vừa rồi có 2 người cháu của cụ Phan ở Sài Gòn ra dự Hội thảo về Phan Bội Châu đã ghé thăm".

Nghĩa trang Phan Bội Châu gắn với những năm tháng cuối đời của nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu (1867-1940). Theo tài liệu của Bảo tàng Thừa Thiên - Huế, sau khi bị thực dân Pháp đưa về giam lỏng tại Huế (24/12/1925), nhờ số tiền hai nghìn đồng do đồng bào Bắc - Trung - Nam quyên góp, cụ Sào Nam đã mua được hai sở vườn: một sở nằm trên dốc Bến Ngự (nay là Khu lưu niệm Phan Bội Châu ở 52 đường Phan Bội Châu, TP Huế) dựng ngôi nhà tranh để ở, còn sở vườn khác ở trên đồi Quảng Tế (nay là nghĩa trang Phan Bội Châu) gần đền Nam Giao, rộng khoảng 1 mẫu đất.

Cụ Sào Nam định lập một cô nhi viện tại đây để nuôi dưỡng trẻ mồ côi không nơi nương cậy, nhưng chính phủ thực dân không cho phép, cụ đành bỏ ý định ấy và dành làm nơi yên nghỉ ngàn thu cho những "đồng chí" của mình. Cũng tại đây, năm 1932, cụ Sào Nam lập nghĩa địa và dựng bia quy ước (1934) định rõ tiêu chuẩn người được an táng trong nghĩa địa. Hiện tại, cách cổng chính nghĩa trang Phan Bội Châu chưa tới 20m, ngay bên trái lối nhỏ duy nhất dẫn vào nghĩa trang còn lưu lại tấm bia chữ Hán "Ước quy nghĩa địa" do Phan Bội Châu tự thảo, nội dung: “Châu trước khi chết, xin đem vườn nầy làm nghĩa địa, tức theo ý cổ nhân nói rằng "bạn bè chết không có chỗ chôn thì chôn tại nhà ta". Nhưng vì đất hẹp vườn chật khó dung hết được, nên định ra quy ước về chôn cất…".

Chiến sĩ cộng sản Nguyễn Chí Diễu là người đầu tiên được an táng tại đây (1939) theo quy ước đó của Phan Bội Châu. Ngoài ra còn 21 ngôi mộ của những người có công với nước như: nhà văn Hải Triều (Nguyễn Khoa Văn), mạc sĩ Nguyễn Huy Nhu, Tam lang tịch Nguyễn Văn Soạn…

Cổng vào nghĩa trang Phan Bội Châu.

Đứng trước cảnh nghĩa trang Phan Bội Châu bị lãng quên, bị người dân lấn đất và đem người nhà vào an táng sai với "Ước quy nghĩa địa", ông Thế áy náy đến độ hoài nghi với tất cả mọi người, nhất là những ai định "xâm nhập" vào nghĩa trang. Ông nói: "Khu di tích lịch sử danh nhân Phan Bội Châu, còn gọi nghĩa trang Phan Bội Châu được Nhà nước công nhận di tích cấp quốc gia ngày 14/7/1990. Đến tháng 12/1997, kỷ niệm 130 năm Ngày sinh của nhà yêu nước Phan Bội Châu, nghĩa trang mới được tu sửa lần đầu. Tôi hỏi ông đầu tư bao nhiêu kinh phí, ông Thế xua tay: "Đừng hỏi mà tội tui. Làm chừng nớ việc. Có cổng mà không có hàng rào. Khóa như không!"

Tâm sự của người "quản trang"

Ông Lê Văn Thế, 71 tuổi làm giáo viên Trường Tiểu học Vĩnh Ninh (TP Huế), đến năm 1996 mới nghỉ hưu. Theo lời ông kể, ông là người "trọ" tại nghĩa trang từ năm 1939 đến nay. Cụ thân sinh ra ông hồi trước vốn là một người hâm mộ, rồi trở thành học trò của cụ Sào Nam, được ở luôn trong nhà (tại 53 đường Phan Bội Châu, TP Huế bây giờ). Đó cũng là khoảng thời gian 15 năm Phan Bội Châu bị chính quyền thực dân giam lỏng ở Huế.

Mong muốn lớn nhất của ông Thế bây giờ là làm sao bảo vệ, gìn giữ được nơi này đúng với tâm nguyện của Phan Bội Châu. Nghĩa trang cần nhất lúc này vẫn là hệ thống tường rào bao quanh. Ông chưa dám mơ có một ban quản lí di tích, nhưng chí ít, theo ông là phải phát quang cây dại và "mở" được cổng Khu di tích lịch sử danh nhân Phan Bội Châu cho du khách thăm viếng! Chia tay ông Thế, tôi cứ nghĩ miên man về những điều ông nói và cả điều mà ông chưa thể trả lời, rằng với thực trạng hiện tại, liệu khách có ghé về nghĩa trang cụ Sào Nam?

Phan Thanh Bình
.
.
.