Đời thương hồ trên dòng kênh Tẻ
Nối giữa quận 4 và quận 7, trải dài dưới chân cầu Kênh Tẻ (phường Tân Hưng, quận 7, TP HCM) là dòng chảy lượn lờ của dòng kênh Tẻ, một nhánh rẽ của sông Sài Gòn. Rảo dọc trên con đường Trần Xuân Soạn trải dài nằm gối đầu bên mép con kênh ấy, đập vào mắt chúng tôi là những xóm thương hồ tụ thành từng nhóm khoảng chục chiếc thuyền lá rách, như thể nương tựa vào nhau để chống chọi với sóng to gió lớn và những bất trắc giữa dông bão cuộc đời. Mỗi chiếc thuyền ọp ẹp ấy là nơi cư ngụ của mỗi gia đình, có khi cả 3 thế hệ cùng ngụ trong ấy.
"Chúng tôi sống theo con nước, tới đâu là cắm sào tới đấy rồi buôn gánh bán bưng, bán xong lại xuôi theo con nước tìm chỗ khác cắm sào nên người đời mới gọi chúng tôi là "dân thương hồ". Hết nhổ sào lại cắm sào, cứ thế dân thương hồ tụi tui lang bạt khắp vùng miền. Hồi trước tôi ở Cần Thơ, theo con nước mà neo đậu hết Bến Tre, Tiền Giang, An Giang… và mấy năm nay thì dừng bến tại nơi này. Cuộc sống cứ vậy mà trôi cho hết phận đời khốn khó".
Người nói những lời chất chứa nỗi niềm ấy là anh Nguyễn Văn Hoàn, 38 tuổi, một trong những cư dân ở xóm thương hồ nằm ven cầu Rạch Ông. Trên chiếc "nhà - ghe" vá víu là nơi cư trú của vợ chồng anh cùng 2 đứa con gần 20 năm qua. Chị Loan, vợ anh tỏ bày: "Dọc con kênh này ngày trước tập trung hàng trăm nhà dân thương hồ. Sau này thành phố chỉnh trang đô thị, các xóm ghe bị trục xuất, giải tỏa nên mọi người sống tản mát, một số còn đất đai ở quê nhà thì nhổ sào trở về, số vô gia cư như vợ chồng tôi thì tiếp tục cảnh sống nay đây mai đó".
Bà Trần Thị Bảy, 56 tuổi, sống cô độc trên chiếc thuyền con mong manh, tâm tình: "Ở thành phố có nhiều con kênh như kênh Tẻ, kênh nước Đen, kênh Lò Gốm, kênh Tàu Hũ, kênh Ba Bò, kênh 19-5… con kênh nào tôi cùng ông xã cũng từng neo đậu".
Sau khi lặng giọng cho biết cách đây 4 năm, vào lúc nửa đêm, do trời quá nóng nên chồng bà là ông Mai Văn Thọ lên mui ghe ngồi uống trà thì bị trúng gió rớt xuống dòng chảy trở thành người thiên cổ. Bà Bảy nói như khóc: "Vợ chồng tôi là dân Ba Chúc, tỉnh An Giang. Trước khi giặc Pôn Pốt tràn qua biên giới sát hại hơn 3.000 người thì cuộc sống của vợ chồng tôi căn cơ lắm, cũng có đất đai, vườn tược. Khi giặc tràn tới, cha mẹ, anh chị em của tôi bị chúng giết sạch. Trên đường trốn chạy, chúng tôi lưu lạc lên Xiêm Riệp, sống ở Biển Hồ đến năm 1990 thì xuôi con nước trở về. Do không còn giấy tờ, đất đai nên chúng tôi đành sống lưu lạc khắp nơi. Bây giờ hễ chỗ nào sống được thì tôi cắm sào, khó khăn thì mình ra đi. Đời thương hồ mà chú!".
![]() |
| Một góc xóm thương hồ. |
Những cảnh đời thương hồ mà chúng tôi tiếp xúc ai cũng có hoàn cảnh khó khăn. Căn nguyên đưa họ đến với kiếp sống cắm sào phần lớn là do chiến tranh loạn lạc, do được sinh ra trên sông nước, lớn lên trên sông nước, cứ thế đời này tiếp nối đời sau nên cuộc sống cắm sào gắn bó với họ là lẽ đương nhiên.
"Hồi trước chúng tôi sống bằng nghề mua đi bán lại bằng cách theo con nước về các tỉnh miền Tây mua trái cây, gà vịt lên thành phố bán lẻ kiếm lời. Sau này thông thương phát triển, cạnh tranh không lại giới xe đò, xe khách chở nhiều chở nhanh nên chúng tôi co hẹp phạm vi hoạt động, phụ nữ vừa bán trái cây vừa tranh thủ nhặt rác, đàn ông thanh niên thì đi bốc xếp, làm phụ hồ, làm công nhân… Tối thì về ghe ngủ" - anh Hoàn mô tả.
Lúc này 8h tối, bên này đường các ngôi nhà đèn bật sáng trưng nhưng tại xóm ghe, màn đêm phủ dằng dặc. Hỏi chuyện buồn vui của kiếp sống cắm sào, chúng tôi ghi nhận nhiều tâm tình trĩu nặng: "Không đất cắm dùi mới phải cắm sào, sống vậy cực lắm chứ sung sướng gì đâu chú ơi".
Bà Bảy thở dài: "Mấy chục năm rồi tôi có biết đến ánh đèn ánh điện, quạt máy quạt gió, tivi đầu máy gì đâu. Làm gì có tiền mà mua những thứ ấy. Mà nếu có tiền cũng hổng dám mua bởi sợ bọn cô hồn tới trấn lột, trộm cắp. Mua rồi thì điện ở đâu mà xài. Có chăng chỉ là điện từ bình sạc chỉ đủ thắp sáng lúc cần thiết thôi".
Chị Loan, vợ anh Hoàn, góp lời: "Chuyện nước ngọt sinh hoạt cũng trần ai lắm. Ở trên bờ một khối nước chỉ có giá 4.000 đồng nhưng khi được vận chuyển xuống kênh, người ta bán đến 7.000 một khạp, một khối nước họ chia thành cả chục khạp. Nước đắt nên mình phải dè xẻn từng tý một".
Nhưng những khó khăn trên không phải là vấn đề đáng ngại của dân thương hồ bởi họ sống quen với những cái khổ ấy từ nhiều năm qua. "Tụi tôi ngán nhất là sóng thuyền và mấy thằng nghiện lúc lên cơn. Mỗi khi có con tàu lớn chạy ngang, sóng do chân vịt tạo đập mạnh vào bờ kè rồi dội ra khiến xóm nhà ghe dập dềnh, chòng chành như muốn đổ ụp. Từng có ghe bị sóng thuyền dập nát tan tành giữa đêm may mà chỉ thiệt hại tài sản chứ không thiệt hại về người". Dứt lời, ông Nguyễn Văn Tài, người tự nhận mình là "dân Vĩnh Long mất gốc" lúc neo thuyền dưới chân cầu Kênh Tẻ, rít điếu thuốc lá thật sâu rồi tiếp tục câu chuyện dở dang: "Có bận, vợ chồng tôi và sắp nhỏ đang ngủ thì có hai thằng đến lay dậy kề dao vào cổ xin tiền. Tôi nói nghèo quá phải chạy ăn từng bữa lấy tiền đâu ra thì bị tụi nó tát chảy máu mồm".
Đêm mỗi lúc một sâu, chúng tôi rời những xóm ghe mang theo khát vọng lên bờ khó trở thành hiện thực của những cảnh đời thương hồ. Cuộc sống bấp bênh nay đây mai đó, con cái sinh ra không được đi học, lớn lên trong cảnh mù chữ nên tương lai của họ vốn đã mịt mù càng thêm tăm tối. Chợt nghĩ trong bối cảnh tấc đất tấc vàng ở TP Hồ Chí Minh như hiện nay và với cảnh sống gạo đong tiền đếm mỗi ngày thì rõ là cái viễn cảnh được lên bờ của những cảnh đời thương hồ đúng là khái niệm xa xỉ mà đến đời con, đời cháu họ cũng khó mà với tới

