Phát triển thủy điện mất kiểm soát và cái giá đắt phải trả

Bài 2: Thủy điện “mọc” vô tội vạ, người dân hứng chịu tang thương

Thứ Sáu, 22/11/2013, 08:01
Những ngày này, về các tỉnh miền Trung, chúng tôi phải đau đớn tận cõi lòng khi chứng kiến bao cảnh tang thương, thiệt hại nặng nề của người dân khi phải hứng chịu cơn “đại hồng thủy” vừa qua. Hậu quả nhỡn tiền này có một phần từ nguyên nhân, phát triển thủy điện tràn lan vô tội vạ và buông lỏng trong công tác giám sát quy trình xả lũ của các thủy điện đầu nguồn…
>> Thủy điện không an toàn sẽ phải ngừng hoạt động

“Danh sách đen” những thủy điện xả lũ gây “đại hồng thủy”

Điển hình rõ nhất là công trình thủy điện Đắk Mi 4, ở thượng nguồn sông Vu Gia, thuộc địa bàn huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam. Thủy điện này do Tổng Công ty Đầu tư phát triển đô thị và khu công nghiệp Việt Nam (IDICO) làm chủ đầu tư, với công suất thiết kế 190MW. Một vấn đề đáng quan tâm là khi công trình thủy điện Đắk Mi 4 đang trong quá trình thi công, nó đã bị các cơ quan chức năng TP Đà Nẵng phát hiện, việc công trình thủy điện chia nước sông Vu Gia về sông Thu Bồn, sẽ dẫn tới hệ lụy khó lường, làm cho Đà Nẵng bị thiếu nước nghiêm trọng trong mùa khô. Chính quyền TP Đà Nẵng đã nhiều lần kiến nghị với Bộ Công Thương và nêu vấn đề lên đến Chính phủ và Quốc hội, yêu cầu can thiệp, buộc thuỷ điện Đắk Mi 4 phải tăng lượng nước trả về sông Vu Gia, nhưng đến nay vẫn chưa được đáp ứng đầy đủ...

Trong khi đó, vào mùa mưa, thủy điện Đắc Mi 4 xả lũ, cộng với nước xả lũ của nhiều thủy điện khác nhấn chìm vùng hạ du. Trận lũ lụt kinh hoàng vừa qua đã gây thiệt hại rất nặng nề đối với vùng “rốn lũ” huyện Đại Lộc (Quảng Nam) cùng với thủy điện A Vương, Sông Bung 4A, Sông Côn, có sự “tiếp sức” của thủy điện Đắk Mi 4, với lưu lượng xả lũ từ 4.000 đến 4.500m3/s. Nhiều chuyên gia đã chỉ ra, nguyên nhân chính của việc xả lũ gây lũ lụt cho huyện Đại Lộc và vùng hạ du nói chung, là do nhà đầu tư thủy điện Đắk Mi 4 đã “ăn gian” dung tích phòng lũ. Thủy điện Đắc Mi 4 có dung tích 516 triệu mét khối nước, dung tích phòng lũ theo quy hoạch 149 triệu mét khối, nhưng thực tế thủy điện này chỉ thiết kế vỏn vẹn 2,2 triệu mét khối dung tích phòng lũ... 

Tương tự, công trình thủy điện A Vương nằm trên địa bàn huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam, có công suất 210MW, do Tập đoàn Điện lực Việt Nam làm chủ đầu tư với số vốn 3.800 tỷ đồng. Tuy nhiên, thủy điện này là một trong những “thủ phạm” chính gây nên trận lũ lụt kinh hoàng vào cuối tháng 9/2009, khiến 95% nhà dân ở huyện Đại Lộc bị ngập chìm trong biển nước, 8 người chết, 300 người bị thương, gần 100% cây trồng và vật nuôi là tài sản lớn của người nông dân bị cuốn trôi...

Theo ông Nguyễn Thanh Quang, Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Quảng Nam, trận lũ lụt do thủy điện A Vương xả lũ quá khủng khiếp. Trong gần 100 năm qua, vùng hạ du sông Thu Bồn và sông Vu Gia chưa có trận lũ lụt nào lớn như vậy. Và, từ việc xả lũ của thủy điện A Vương, các nhà chuyên môn về thủy điện và cơ quan chức năng đã phát hiện một sự thật khó tin: Thủy điện A Vương có dung tích 344 triệu mét khối, dung tích phòng lũ theo quy hoạch 110 triệu mét khối; nhưng nhà đầu tư chỉ thiết kế dung tích phòng lũ 14,25 triệu mét khối (?!)...

Làng quê vùng hạ du tiêu điều sau lũ lụt.

Chẳng thua kém thủy điện A Vương, Đắk Mi 4... liên tục từ ngày 15/11, thủy điện Sông Tranh 2 xả lũ trên 3.000m3/s cho đến ngày 17/11, thủy điện này vẫn còn xả lũ với lưu lượng 2.046m3/s. Nước xả lũ của thủy điện Sông Tranh 2 “góp sức” cùng hàng loạt thủy điện đầu nguồn sông Thu Bồn và Vu Gia nhấn chìm làng mạc các vùng hạ du tỉnh Quảng Nam, như: Duy Xuyên, Đại Lộc, Điện Bàn, Hội An. Thủy điện Sông Tranh 2 có công suất 190MW, tổng đầu tư 5.194 tỷ đồng do Tập đoàn Điện lực Việt Nam làm chủ đầu tư. Sau khi tích nước và phát điện, năm 2012 thân đập chính của thủy điện Sông Tranh 2 bị thấm nước, với lượng nước thấm gấp 5 lần cho phép. Việc thấm nước này, các nhà khoa học đã lên tiếng khẳng định là vô cùng nguy hiểm... Đặc biệt, từ khi thủy điện Sông Tranh 2 tích nước về sau này đã xảy ra hàng chục trận động đất với cường độ nguy hiểm liên tục xảy ra tại đây gây bất an cho người dân huyện Bắc Trà My và vùng hạ du tỉnh QuảngNam. Cũng giống như công trình thủy điện Đắk Mi 4, thủy điện Sông Tranh 2 có dung tích 631 triệu mét khối nước, dung tích phòng lũ theo quy hoạch 233 triệu mét khối, nhưng thủy điện này đã “ăn gian” thiết kế dung tích phòng lũ chỉ còn 75,52 triệu mét khối...

Thiếu trách nhiệm hay phớt lờ quy định?

Trong quá trình tìm hiểu tư liệu cho loạt bài viết này, chúng tôi được biết, năm 2003, Bộ trưởng Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công thương) đã phê duyệt quy hoạch bậc thang thuỷ điện hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn. Trong đó, thứ tự ưu tiên xây dựng các công trình thuỷ điện lần lượt là A Vương, Sông Tranh 2, Sông Bung 4, Đắk Mi 4, Sông Côn 2, Đắk Mi 1, Sông Bung 2, Sông Giằng. Quyết định phê duyệt quy hoạch nhấn mạnh, trong mọi trường hợp, công trình Sông Bung 4 phải được xây dựng trước công trình Đắk Mi 4. Thứ tự ưu tiên này đã được tính toán, cân nhắc đến việc đảm bảo lưu lượng dòng chảy nhằm duy trì hệ sinh thái, đảm bảo nguồn nước sản xuất, sinh hoạt của vùng hạ du tỉnh Quảng Nam và TP Đà Nẵng với gần cả triệu dân. Tuy nhiên, yêu cầu này bị chính Bộ Công thương và các cấp ngành chức năng phớt lờ. Thuỷ điện Đắk Mi 4 được xây dựng và đi vào hoạt động từ mấy năm qua, trong khi thuỷ điện Sông Bung 4 xây dựng sau và đến nay vẫn chưa hoàn thành.

Ông Võ Văn Điềm, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Quảng Nam cho biết, nếu dự án Sông Bung 4 được xây dựng và vận hành trước thuỷ điện Đắk Mi 4 như quy hoạch, sông Vu Gia sẽ không lâm vào cảnh khô kiệt vì theo thiết kế, thuỷ điện Sông Bung 4 sẽ trả nước sau phát điện về sông Vu Gia... Và hệ quả là đại bộ phận các công trình thủy điện nằm trên địa bàn các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên hiện nay mỗi khi gặp mưa lũ lớn đều không thể nào thực hiện được chức năng cắt lũ. Vì dung tích được thi công nhỏ so với yêu cầu cho nên mùa khô thì không trữ nước được bao nhiêu để cứu hạn cho vùng hạ du, nhưng mỗi khi mùa lũ về thì phải xả lũ một cách dồn dập nên tạo ra hiện tượng lũ chồng lũ gây cho người dân những khốn đốn khôn lường.

Lãnh đạo UBND xã Phước Hiệp, huyện Phước Sơn (Quảng Nam) bức xúc cho biết: Chỉ sau một khoảng thời gian ngắn, các công trình thủy điện xả lũ theo kiểu “vi phạm nghiêm trọng quy trình xả lũ” đã có 14 căn nhà của những người dân sinh sống ven sông bị nước lũ cuốn trôi mất dạng.

Cũng trong nỗi bức xúc vì tình hình lũ lên nhanh, ông Nguyễn Văn Thắng, nguyên Chủ tịch UBND thị xã An Khê, hiện là Phó Ban Nội chính Tỉnh ủy Gia Lai cho biết: “Bây giờ mới biết vì sao thủy điện An Khê – Ka Nak bất ngờ tăng lượng xả lũ như vậy. Lúc đầu họ chỉ định xả 700 – 800m3/s, nhưng khi Nhà máy thủy điện An Khê bị sự cố, họ đột ngột tăng lưu lượng lên rất lớn, trên 3.000m3/giây. Họ xả lũ kiểu đó thì không cách gì mà chạy kịp. Quy trình đã có, đâu phải thủy điện muốn xả bao nhiêu thì xả. Họ làm vậy là quá sai quy trình…”. Ông Thắng nhắc đi nhắc lại rằng: Trước đây, khi đang làm Chủ tịch UBND thị xã An Khê, ông đã nhiều lần yêu cầu thủy điện An Khê - Ka Nak phải làm sơ đồ vùng bán ngập nhưng phía thủy điện đã làm ngơ. “Do đó, cần xác định nguyên nhân gây lũ lớn, làm rõ trách nhiệm của thủy điện” trước sự mất mát thiệt hại của nhân dân…   

Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải: Xả lũ sai quy trình phải chịu trách nhiệm

“Các địa phương đều báo cáo khi xả lũ đã thông báo đầy đủ cho dân, nhưng khi tôi đi thăm một số hộ dân thì cũng có ý kiến nói không biết, thế thì phải kiểm tra lại” - Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải trao đổi với báo chí sau chuyến công tác miền Trung kiểm tra tình hình mưa lũ và vấn đề thủy điện ở đây. Phó Thủ tướng cho biết, vừa rồi đã đề nghị các địa phương báo cáo xem những trường hợp nào sai thì xử lý, nhiều cuộc họp cũng đã nêu. Qua đó, phát hiện ra các bất cập cần rút kinh nghiệm...

- Thưa Phó Thủ tướng, vấn nạn thủy điện xả lũ chồng lũ đang gây hệ quả nghiêm trọng ở miền Trung. Qua kiểm tra, ông có đánh giá gì?

Qua khảo sát cho thấy các địa phương có hồ chứa lớn như Bình Định (160 hồ chứa), Quảng Ngãi (120 hồ), Đà Nẵng (hơn 70 hồ). Các hồ chứa yếu đều được tách ra và không tích nước. Do vậy, đợt này mưa rất lớn so với những lần trước nhưng tình trạng vỡ hồ chứa không xảy ra... Khi kiểm tra, tôi thấy các địa phương cũng như Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và PTNT đều nắm vững về lượng xả lũ và điều hành của các hồ chứa...

Theo tôi, việc xả lũ là bình thường bởi mưa xuống lưu vực, nước chứa đầy hồ đương nhiên phải xả, bởi không chảy xuống lưu vực thì nước đi đâu? Vấn đề là phải xả đúng, nếu xả lũ sai quy trình chỉ làm nghiêm trọng hơn cho tình hình hạ du. Xả sai thì lũ chồng lũ bởi không điều tiết chính xác mức nước hồ chứa để xả cao hơn cả đỉnh lũ để đảm bảo an toàn hồ chứa. Đây chính là vấn đề cần phải kiểm soát chặt.

- Vậy Phó Thủ tướng đã yêu cầu rà soát các hồ chứa xả sai quy trình như thế nào?

Chính phủ yêu cầu các Bộ Công thương và Nông nghiệp - PTNT cùng các địa phương phải theo dõi chặt chẽ và nếu các hồ không thực hiện đúng quy trình xả lũ, chủ quan, không phân công trực khi mưa lũ và không có những mệnh lệnh chính xác thì có thể xảy ra tai họa khôn lường. Những trường hợp đó phải kiểm tra và xử lý nghiêm thì những người vận hành và khai thác các hồ chứa mới thực hiện hết trách nhiệm của họ với vùng hạ du. Bởi phía hạ du còn bao nhiêu người hứng chịu. Qua kiểm tra ở các địa phương đều có sơ đồ quá trình lũ của từng hồ, từ lúc lũ về cho đến mức nước ra sao và xả lũ như thế nào… đều được vẽ biểu đồ quá trình lũ và trên cơ sở đó đánh giá được hiệu quả của việc cắt lũ. Các hồ mặc dù vận hành đúng quy trình, nhưng hiệu quả cắt lũ chưa cao. Do đặc điểm địa hình dung tích cắt lũ không lớn, nên không cắt lũ nhiều được. Khi cắt lũ thì quan trọng nhất là dự báo chính xác đỉnh lũ về lúc nào vì quan trọng phải cắt lũ đúng đỉnh, nếu không hiệu quả sẽ thấp mặc dù không làm trầm trọng thêm hạ du, nhưng không phát huy được hết năng lực lũ.

- Từ những bất cập trong xây dựng hồ chứa, chúng ta cần rút ra những kinh nghiệm gì để chấn chỉnh?

Trước hết cần rút kinh nghiệm ở hệ thống quan trắc. Để điều tiết chính xác hồ chứa và phát huy hết năng lực chống lũ của nó, số liệu dự báo phải rất chính xác và chỉ được sai số thấp nhất. Sau vụ mưa lũ ở huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên (2009) mới thấy hệ thống quan trắc không phát huy hết tác dụng. Khi đó dự báo mưa rải rác không lớn, nhưng thực tế ở huyện miền núi Đồng Xuân nước ngập lên tận nóc nhà. Chứng tỏ mưa cục bộ lúc đó cỡ 1.000mm, chứ không thấp như ở số liệu quan trắc. Chính vì vậy, tiếp tục đầu tư hệ thống quan trắc là điều kiện quan trọng, để đảm bảo phát huy hết năng lực chống lũ của các hồ chứa.

Kinh nghiệm thứ hai là tiếp tục theo dõi việc thực hiện các hồ chứa để thấy những bất hợp lý và điều chỉnh. Vì không có quy trình nào được coi là bất di bất dịch và phải xây dựng trên cơ sở các tính toán về kỹ thuật và có thể ra thực tiễn chưa phản ánh hết được cần tính toán lại.

- Còn về thông tin cảnh báo lũ, có dư luận cho rằng nhiều nơi chính quyền xả lũ không cảnh báo khiến người dân bất ngờ, trở tay không kịp?

Thông tin mưa lũ rất quan trọng. Tôi đi kiểm tra xuống tận xã và biết người dân được thông báo đã đi sơ tán bởi khi lũ về chỉ một lúc là nước dâng trên cả đầu người. Người dân sau khi có thông báo đã tự giác sơ tán, miền Trung người dân tự giác tránh lũ hơn và họ sơ tán ngay. Tuy vậy, tôi đi kiểm tra vẫn có nơi người dân nói không biết có lũ... Tôi vào mấy nhà dân bị sập vào ban đêm, hỏi được biết đồng bào chạy ra ngoài rồi, hoặc lúc ấy đã lên ủy ban ngồi. Tôi đã giao cho các Bộ chức năng và ủy ban các địa phương kiểm tra xem thông tin có vấn đề gì không? Hiện nay Chính phủ giao cho Bộ Nông nghiệp và PTNT phải kiểm soát được luồng thông tin từ lãnh đạo, Ban chỉ huy phòng chống lụt bão và từ các hồ đập. Phải hoàn thiện hệ thống thông tin về mưa bão lũ.

- Với những sai phạm trong quy hoạch, xây dựng và sử dụng hồ thủy điện, cử tri cho rằng cần phải xử lý nghiêm những cá nhân thiếu trách nhiệm. Việc này đã tiến hành ra sao, thưa Phó Thủ tướng?

Vấn đề này đã có qui định pháp luật rồi. Nếu địa phương hoặc bộ, ngành nào phát hiện ai làm sai thì thanh tra, kiểm tra làm rõ. Còn hình sự hay không phải do cơ quan pháp luật xem xét. Các địa phương phải báo cáo xem trường hợp nào sai thì xử lý. Tuy vậy, mình phải phát hiện ra những bất cập để điều chỉnh.

- Vậy, yếu điểm lớn nhất trong hệ thống thủy điện miền Trung là gì?

Miền Trung có đặc thù địa hình dốc, ngắn, nên mưa lũ xuống tạo dòng nước chảy rất siết và nhanh. Đặc thù là ngập nhanh và rút nhanh. Chính vì thế, các hồ chứa không thể thiết kế được diện tích phòng lũ lớn như các hồ ở miền Bắc và miền Nam, chưa nói các hồ chứa này lại kết hợp với thủy điện, bắt buộc phải tính toán theo hiệu quả kinh tế, nên dung tích phòng lũ không lớn.

Khi tôi vào Quảng Nam, Quảng Ngãi, họ bảo từ bé tới giờ không bị lũ, đến giờ nước lại ào vào, họ phát hiện do ta làm đường bị ngăn dòng lũ trước. Ở đây, những tính toán khẩu độ thoát lũ trước đây không còn phù hợp. Cho nên, Thủ tướng chỉ đạo các địa phương đánh giá lại các khu dân cư bị đe dọa bởi lũ, mà việc này thay đổi theo thời gian, nay thế này, mai khác nên phải đánh giá lại để điều chỉnh.

Đ.Minh (ghi)

Đại biểu Đỗ Văn Đương (TP Hồ Chí Minh):
Phải có quy định bắt buộc chủ các hồ thủy điện phải xả nước trước khi bão đến

Theo tôi phải ra một quy định, trước khi bão đến, áp thấp nhiệt đới, mưa lớn thì phải xả hết nước đi, tăng dung tích hồ chứa lên. Nếu chủ đầu tư cứ giữ lại để mà phát điện kiếm một vài tỷ đồng, đến khi có mưa bão mới xả lũ thì sẽ gây thiệt hại hàng trăm, hàng nghìn tỷ đồng và còn liên quan cả tính mạng người dân nữa. Phải có quy định và bắt buộc phải thực hiện như vậy, nếu anh nào không làm thì phải xử lý, truy cứu trách nhiệm hình sự rất nặng. Không thể vì lợi ích nhỏ mà hy sinh lợi ích lớn của nhân dân vùng hạ lưu như vậy. Tôi đề nghị Chính phủ và Bộ Công thương có lẽ phải có quy định rất chặt chẽ. Bây giờ nói phải đi đôi với làm.

Đại biểu Nguyễn Đức Hiền, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Trưởng ban Dân nguyện: Phải có quy định rõ ràng và phải xử lý cả hình sự để nâng cao trách nhiệm

Tôi cho rằng vấn đề quan trọng ở đây là phải đề cao tinh thần trách nhiệm của những chủ hồ chứa, phối hợp với chính quyền địa phương phải rất chặt chẽ. Nhiều dự án thủy điện xả lũ không báo trước. Tôi nghĩ chúng ta phải xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến những lĩnh vực này. Bây giờ anh không tuân thủ các quy trình xử lý, anh gây thiệt hại rõ ràng là anh phải bồi thường, cả trách nhiệm hình sự. Nếu không đặt ra vấn đề đó thì rất khó có những chế tài cho chúng ta xử lý một cách kiên quyết được.

GSTS Nguyễn Thế Hùng – Phó Chủ tịch Hội Cơ học Thủy khí Việt Nam, ĐH Bách khoa Đà Nẵng:

Nhà nước phải có một biện pháp mạnh. Phải bố trí trạm thủy văn đầu nguồn, dự báo tương đối chính xác lưu lượng nước chảy về hồ vào mùa mưa. Các hồ chứa phải xây dựng các hồ chứa; có giám sát của đại diện chính quyền và nhân dân, giám sát chặt chẽ mức nước bằng các biện pháp kỹ thuật. Phải xây dựng quy trình về bài toán vỡ đập để chủ động các giải pháp ứng phó nếu không người dân sẽ tiếp tục phải lãnh hậu quả.

Theo những thống kê sơ bộ của Văn phòng Phòng chống lụt bão miền Trung – Tây Nguyên, trận “đại hồng thủy” vừa qua, tính đến ngày 21/11/2013, đã có 43 người chết, 4 người mất tích và 66 trường hợp bị thương. Về tài sản, có đến 418 ngôi nhà bị đổ sập, 1.649 nhà khác bị tốc mái, xiêu vẹo, hư hỏng; hàng trăm nghìn ngôi nhà khác của người dân bị nhấn chìm trong lũ lụt.

Long Vân - Bảo Thy - Thân Lai - Mạnh Hà - Trần Huy - Vũ Hân - Hà Ly
.
.
.