Người viết thi phẩm hay nhất về “ngày 30/4” đã về trời

Thứ Hai, 20/04/2026, 09:00

Nguyễn Đức Mậu là một người thơ hiền lành và rất mực thương quý bạn bè. Chơi với nhau hơn ba chục năm, ông chưa bao giờ lớn tiếng và cứ thủ thà thủ thỉ với tôi như một người em thân thiết.

Tin nhà thơ Nguyễn Đức Mậu bất ngờ qua đời sau một cơn đột quỵ vào ngày 7/4/2026 đã để lại vô vàn nỗi tiếc thương trong lòng bạn bè văn chương. Facebook Đoàn Văn Mật là người báo tin đầu tiên. Anh viết:

Mới vài hôm trước thôi, cháu vẫn còn gặp chú ở bến chờ xe buýt, vẫn thấy bóng dáng chú lặng lẽ bước đi trước cổng Nhà số 4. Bởi mới chỉ hôm qua và sáng nay vẫn có người gọi điện, nhắn tin nhờ cháu gửi số điện thoại của chú. Cây đại Nhà số 4 mùa này hoa rơi nhiều quá chú ạ! Rơi vu vơ trầm mặc những nỗi buồn. Rơi như niềm tiếc thương một người thân đã rời khỏi thế gian này.

“Nơi tôi ở hoa đại rơi trắng đất/ Có ai nhìn hoa nghĩ tóc bạc trên đầu”. (thơ chú Mậu)

Chú ra đi nhẹ nhàng như một cuộc rong chơi đến với cõi khác. Chú ra đi theo đúng nghĩa một người đang đi trên đường luôn nở nụ cười hiền. Chú ra đi nhẹ nhàng và lặng lẽ như những bước chú đi trên đường qua Nhà số 4 vào sáng sớm, vào lửng trưa và cuối chiều”. Còn trên Facebook Sương Nguyệt Minh: “Nhà số 4 Lý Nam Đế gọi ông là NGƯỜI HIỀN. Nhớ ông là nhớ Người hiền. Nhớ ông là nhớ "Trường ca sư đoàn", nhớ "Nấm mộ và cây trầm", nhớ "Nếu tất cả trở về đông đủ/ Sư đoàn tôi sẽ thành mấy Sư đoàn", nhớ "Màu hoa đỏ"... Ông ra đi, nhưng thơ còn ở lại mãi mãi với đời”...

Người viết thi phẩm hay nhất về “ngày 30/4” đã về trời -1
Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.

Nguyễn Đức Mậu là một người thơ hiền lành và rất mực thương quý bạn bè. Chơi với nhau hơn ba chục năm, ông chưa bao giờ lớn tiếng và cứ thủ thà thủ thỉ với tôi như một người em thân thiết. Ngay cả khi có mấy năm cùng ngồi với nhau trong Hội đồng thơ, Hội nhà văn Việt Nam, khi cần trao đổi, cần tranh luận về một giải thưởng, một tác giả văn chương, ông cứ mềm mỏng phân tích, nhẹ nhàng thuyết phục.

Ông thường bảo tôi: "Đến nhà mình chơi đi, có mấy chai vang ngon lắm". Tôi và nhà thơ Bằng Việt có hôm đến nhà ông cùng chấm một giải thơ, uống vang say tít mù, lúc Bằng Việt về bị thổi nồng độ cồn, bị tịch thu mất luôn chiếc xe máy, ông Mậu than thở mãi. Đầu năm rồi, khi cùng chấm giải thưởng thơ cho Hội VHNT Ninh Bình và Hội VHNT Lạng Sơn, ông khẽ khàng bảo tôi: "Ta chú ý đến các cây viết trẻ để động viên họ là đúng, nhưng cũng cần chú ý đến mấy bác cao tuổi vì trước đây họ cũng là những cây bút chủ lực của địa phương đấy".

Một người hiền luôn quan tâm đến bạn bè

Cách đây ít ngày, khi biết tôi đang mắc bệnh trọng, ông còn dặn dò, nhắn tin địa chỉ mua bột củ sen ăn sáng vừa rẻ vừa chữa được nhiều bệnh. Nguyễn Đức Mậu là thế, luôn tốt bụng và mộc mạc chân thành với bạn bè, gặp nhau là thăm hỏi chuyện đời sống, sức khoẻ, chuyện gia đình rất tận tình và chia sẻ. Ông như thể một người hiền không thể hiền hơn trong làng thơ Việt Nam hôm nay.

Tôi nhớ mãi lời khuyên ân cần của ông hôm ấy: "Cả nhà tôi đều ăn bột củ sen, tốt lắm ông ạ, tôi khoẻ mạnh không bệnh tật cũng nhờ nó đấy, ông chịu khó ăn đi nhé". Đúng là Nguyễn Đức Mậu vẫn khoẻ mạnh bình thường cho đến buổi sáng định mệnh khi ông lên xe buýt có việc đi lên phố và gặp cơn đột quỵ phải rời bỏ thế gian này vào một ngày tháng tư nóng bức, để lại một khoảng trống trong lòng bạn đọc và thi ca.

Có lẽ tháng tư với ông thật đặc biệt, vì cách đây 51 năm, Nguyễn Đức Mậu đã viết một trong những bài thơ hay nhất của mình về "Ngày30/4" lịch sử khi non sông thống nhất, đất nước hoà bình sau đêm dài chiến tranh.

Là một người lính đã hiến dâng trọn đời thơ mình cho đất nước, những bài thơ viết trong chiến tranh của ông là những bản giao hưởng anh hùng ca đậm chất sử thi bi tráng.Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu, sinh năm 1948; Quê quán Nam Trực, Nam Định nay là tỉnh Ninh Bình; Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam năm 1977.

Ông nhập ngũ năm 1966, chiến đấu trong đội hình sư đoàn 312 ở chiến trường Lào và chiến trường B. Sau chiến tranh ông làm biên tập viên, rồi đi học trường viết văn Nguyễn Du khóa I, sau đó làm Trưởng ban Thơ tạp chí Văn nghệ Quân đội, Phó chủ tịch Hội đồng Thơ – Hội nhà văn Việt Nam. Về hưu với quân hàm Đại tá.

Ông đã in 21 tâp thơ, trường ca và truyện ngắn, tiểu thuyết. Ông đã được trao nhiều giải thưởng văn học uy tín. Trong mạch thơ viết về chiến tranh cách mạng và người lính Việt Nam, Nguyễn Đức Mậu là một gương mặt giàu bản lĩnh, từng đi qua chiến trường nên thơ ông luôn mang độ chân thực của trải nghiệm sống, đồng thời vẫn có độ ngân rung của cảm xúc và chiều sâu suy tưởng.

Bài thơ “Ngày 30/4” là một trong những thi phẩm tiêu biểu viết về chiến thắng lịch sử của dân tộc - ngày đất nước thống nhất, non sông thu về một mối. Ở đó, người đọc không chỉ bắt gặp niềm vui vỡ òa của đại thắng mùa xuân 1975, mà còn cảm nhận được dáng đứng lớn lao của dân tộc, vẻ đẹp bi tráng của người chiến sĩ, và âm hưởng hào hùng, rộng lớn của một bản thơ mang đậm chất tráng ca - sử thi. Bài thơ vừa là khúc ca chiến thắng, vừa là khúc tưởng niệm, khúc đoàn viên, và hơn hết là khúc ngợi ca con người Việt Nam đã bước qua máu lửa để đi đến hòa bình.

Người viết thi phẩm hay nhất về “ngày 30/4” đã về trời -0
Các tập thơ mới của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.

Điều làm nên sức mạnh tư tưởng trước hết của bài thơ là nhà thơ đã tái hiện ngày 30/4 không như một cột mốc lịch sử khô cứng, mà như một thời khắc thiêng liêng, một bước ngoặt lớn của vận mệnh dân tộc. Ngay từ những câu thơ mở đầu, Nguyễn Đức Mậu đã dựng lên một hình tượng trung tâm khi người lính từ Trường Sơn tiến vào thành phố.

Một trong những đoạn thơ hay nhất của bài là đoạn diễn tả ranh giới mong manh mà quyết liệt giữa chiến tranh và hòa bình: “Ngày 30 tháng 4/ Sáng chúng tôi dồn đạn vào nòng/ Chiều xanh trời ngẩng mặt đón trời xanh/ Hoà bình và chiến tranh/ Cách nhau bằng nấc đạn”. Câu thơ “Hòa bình và chiến tranh/ Cách nhau bằng nấc đạn” có sức khái quát lớn, vừa hiện thực vừa triết lý. Chính ở đây, chất sử thi của bài thơ được đẩy lên rõ nét khi số phận cá nhân hòa vào vận mệnh lịch sử, khoảnh khắc chiến đấu trở thành khoảnh khắc chuyển xoay của cả đất nước.

Chất tráng ca - sử thi của bài thơ còn thể hiện ở tầm vóc không gian rộng lớn, ở cái nhìn bao quát non sông, biển đảo, bầu trời đất nước trong ngày hòa bình.

Bài thơ gây xúc động sâu sắc khi viết về những cuộc đoàn viên sau chiến tranh. Trong khúc ca chiến thắng vẫn có âm hưởng lắng xuống của đời sống con người: “Trăng trên trời rơi xuống buổi đoàn viên/Rơi xuống mái nhà chồng Nam, vợ Bắc”.

Vừa bi hùng vừa lắng sâu trải nghiệm

Sức nặng tư tưởng của bài thơ đặc biệt lắng sâu ở đoạn viết về các thế hệ và cái giá của hòa bình: “Hòa bình về trên mái tóc người cha/ Và tiếng khóc oa oa thơ bé/ Người lửa cháy suốt thời trai trẻ/ Kẻ chào đời tiếng súng đã lặng câm”. Hòa bình đến với cả người đã đi qua chiến tranh lẫn đứa trẻ vừa sinh ra trong ngày không còn tiếng súng. Hai thế hệ đứng cạnh nhau như hai đầu nhịp cầu lịch sử. Người cha đã cháy hết tuổi trẻ cho đất nước; đứa bé sinh ra được hưởng món quà lớn nhất là một bầu trời yên tiếng súng.

Nếu bài thơ là khúc ca chiến thắng thì đồng thời cũng là khúc mặc niệm những người đã ngã xuống. Nguyễn Đức Mậu không để niềm vui chiến thắng che lấp hy sinh: “Vai áo anh còn vết máu bạn bè/ Vai áo tôi khét nồng thuốc đạn/ Xin đặt vòng hoa: thắp nén hương tưởng niệm/ Có khoảng trời xanh dưới đất nâu/ Một vuông đất: kẻ nằm, người đứng/ Nhưng hòa bình từ nay về ta”. Đây là đoạn thơ bi tráng nhất bài. Người sống bước vào ngày vui nhưng vẫn mang trên vai vết máu của đồng đội, vẫn còn nguyên mùi thuốc đạn. Câu thơ “Có khoảng trời xanh dưới đất nâu” vừa đẹp vừa đau khi dưới lớp đất nâu là những con người đã hóa thân vào bầu trời hòa bình.

Nghệ thuật thơ tráng ca – sử thi của Nguyễn Đức Mậu thể hiện rất rõ trong cách xây dựng hình tượng tập thể. Cái “tôi” trữ tình trong bài không tách biệt mà hòa vào “chúng tôi”, vào “sư đoàn tôi”, vào đoàn quân, vào dân tộc. Hình tượng người chiến sĩ không chỉ là một cá nhân cụ thể mà là đại diện cho cả thế hệ cầm súng.

Cao trào sử thi của bài thơ dồn tụ trong những câu: “Không đếm hết dấu chân dừng lại dọc đường/ Thành dòng chữ gọi người đang sống Chúng tôi đi tới ngày toàn thắng/ Cánh tay người lính/ Đã mọc thành cờ/ Trời xanh sáng ngời/ Gương mặt tự do”.

Có thể nói, “Ngày 30/4” của Nguyễn Đức Mậu là một bài thơ hay viết về chiến thắng thống nhất đất nước bởi nó hội tụ nhiều vẻ đẹp: vẻ đẹp của sự thật lịch sử, vẻ đẹp của cảm xúc chân thành, vẻ đẹp của hình tượng người lính, và vẻ đẹp của giọng thơ tráng ca – sử thi.

Bởi vậy, đọc “Ngày 30/4”, ta không chỉ thấy một bản anh hùng ca, mà còn thấy một bản tình ca về con người, về sự sống, về hòa bình được làm nên từ vô vàn gian khổ và hy sinh. Đó là lý do bài thơ vẫn còn sức ngân vang lâu dài trong lòng người đọc hôm nay.

Giờ thì người lính - nhà thơ Nguyễn Đức Mậu đã đi rất xa nhưng âm hưởng những bài thơ chiến tranh và hoà bình của ông còn vang vọng mãi trong tháng Tư lịch sử này và trong trái tim triệu người yêu nước.

Nguyễn Việt Chiến
.
.
.