Tô Đức Chiêu

Vó ngựa thảo nguyên Mongolia

Thứ Hai, 14/01/2008, 15:30
Chiều đến. Chúng tôi trở về Xơlengiơ Camp là khu nghỉ dưỡng đặt ở giữa thảo nguyên mênh mông của huyện Barun tỉnh Sêlinh. Bỗng thấy tít phía xa từng cặp ngựa phóng như bay để chạy trốn bóng đêm đang nhanh nhanh bao phủ.

Một vài chiếc ôtô đuổi theo. Lúc ôtô vượt lên trước. Lúc ngựa dẫn đầu. Chẳng hiểu ngựa đã phi nước kiệu hay chưa và ôtô đã dấn ga ở tốc độ cao nhất hay chưa? Chỉ biết cả hai đều phóng rất nhanh.

Rồi lại một tốp khác bốn ngựa do bốn kị mã điều khiển rầm rập xuất hiện phía sau ôtô chúng tôi. Các kị sĩ Mongolia xem vẻ coi thường ôtô loại mới nhất do Nhật Bản sản xuất này, bèn không thèm vượt, khi đã ngang ngang bên nhau, chỉ liếc nhìn như để nhận xét và đánh giá, rồi vẽ quặt về chân đồi có vạt ánh mặt trời đỏ tía còn đang vương vấn.

Người ta bảo ngày mai nơi đây vào hội Nađôm. Sẽ tổ chức thi vật, thi bắn cung và thi ngựa. Giải nhất vật một triệu Tô rốc - tiền Mongolia tương đương mười triệu đồng Việt Nam. Giải nhất phi ngựa sẽ được một con tuấn mã béo tốt và giải nhất bắn cung sẽ được ba cừu hay dê. Đồng cỏ huyện Barun Buren rộng mênh mông và cách Ulanbato chừng ngót ba trăm cây số.

Rặng núi Barun Buren không cao so với thảo nguyên, cứ làn làn chạy mãi lên và có những cánh rừng trang điểm, xa mãi, xa mãi, như sát với nền trời. Tên núi cũng là tên huyện. Bên kia núi là con sông Sêlinh nước trong văn vắt làm cho tỉnh này có tên như vậy và chảy ngược về hướng Bắc, vượt qua biên giới với Nga để đổ nước vào hồ Bai Can.

Đồng cỏ Mongolia chạy hút tầm mắt. Con đường ôtô từ thủ đô Ulanbato tới đấy còn đi mãi về phía tây, vắt vẻo qua những dải đồi, trôi nhanh giữa những miền cỏ, hiện ra, rồi lại mất, ôtô vun vút chạy tới cứ ngỡ rằng nó sẽ ngược lên tới trời để rồi bỗng dưng lại hiện ra xa vời tít tắp. Đường không có tên và các điểm đến đều không có một cây số báo hiệu.

Phải chăng người Mongolia coi ôtô chạy trên đường cũng giống như ngựa phi nước kiệu trên thảo nguyên, trời trên đầu và đất dưới chân, cứ việc vút vào thinh không, khi nào mỏi bánh thì dừng và mỏi chân thì đứng. Ôtô chạy trên đồng cỏ cũng vậy. Những vết mòn cho ôtô lăn bánh, nếu có, cũng là sự hình thành tự nhiên, giống như ngựa phi, ngang tắt tha hồ…

Đoàn nhà văn Việt Nam có năm thành viên: Dịch giả Hoàng Thúy Toàn - chủ tịch Hội đồng văn học dịch Hội Nhà văn Việt Nam, nhà văn Nguyễn Khắc Phục, nhà thơ Trần Nhương, nhà văn Hoàng Minh Tường và tôi sang thăm lại Mongolia kể từ thập kỷ 70 của thế kỷ trước. Chúng tôi là những người Việt Nam đầu tiên tới vùng thảo nguyên Barun Buren, không kể những chuyên gia và thợ tới những năm thập kỉ tám mươi tham gia tôn tạo, tu bổ ngôi chùa nổi tiếng Atharabay - Salam cách khu Xơlengiơ Camp chừng dăm bảy cây số.

Niềm vui sướng lần đầu tiên thả mình bay trên thảo nguyên còn được tăng thêm nhiều khi bốn vị lãnh đạo huyện chờ đợi khách Việt Nam tại Xơlengiơ Camp đều đã từng mới sang Việt Nam. Chị Nara chủ tịch huyện sở tại nói nhiều về ngôi chùa nổi tiếng Atharabay - Salam. Chùa được hình thành từ thế kỷ mười sáu cùng với đạo Phật du nhập từ Tây Tạng vào Mongolia. Hỏi chị ấn tượng gì nhất khi sang Việt Nam, Nara sôi nổi:

- Người Việt Nam rất cần cù và năng động. Đất chật. Mật độ dân số đông. Người ta làm việc không mệt mỏi và đầy sáng tạo mong tới sự khá giả cho mình và cho xã hội. Đi đâu tôi cũng nghe nói tới làm giàu và thời gian là vàng bạc.

Nara theo tiếng Mongolia có nghĩa là mặt trời và tự nhiên tôi cứ coi tên chị như vậy mới phù hợp. Cùng với các chủ tịch huyện khác trong tỉnh và giám đốc Sở Kinh tế Sêlinh, sáng sớm hôm sau chị dẫn chúng tôi vào đền Thiêng, đặt trên sườn núi Thiêng và do người dân tới viếng chùa Atharabay - Salam đều tới đây khấn vái trước nên chúng tôi gọi luôn là đền Trình. Phật Bà Quan Âm uy nghiêm ở giữa và hai bên là một vạn tượng phật nhỏ bé bày trong tủ kính.

Đường tới chùa Trình hay chùa Thiêng cắt ngang cánh rừng bạch dương chạy dài và chẳng hiểu có phải do con người hóa tạo hay không mà thành hàng thành lối tít tắp từ chân núi này sang cánh đồng cỏ khác, nhiều gia đình hay những tốp con trai con gái, chẳng hiểu từ mãi đâu tới, đang rỡ lều bạt từ trên ôtô xuống dựng trại.

Ngày xưa sự vận chuyển này hoàn toàn do ngựa hoặc lạc đà. Hôm nay ngựa chỉ để phi trên đồng cỏ và cho sữa. Ôtô ở Mongolia giá rẻ từa tựa như ở Malaysia hay Campuchia. Chiếc xe bẩy chỗ ngồi Amara chở chúng tôi phóng như bay từ thủ đô Ulanbato tới đây, mới coong, sản xuất ở Nhật, chủ nhân vừa mua mười bốn ngàn đôla Mĩ.

Chùa Trình, kề bên chùa chính Atharabay - Salam nhưng ôtô chạy cắt ngang đồng cỏ cũng phải mười lăm tới hai mươi phút. Cứ lát lát lại gặp một ôtô chở gia đình nào đó ở mãi đâu chạy tới. Mênh mông trời đất ai muốn dựng lều ở đâu thì dựng. Đa số dọc theo những nguồn nước róc rách. Một điều rất đáng chú ý là vệ sinh và môi trường rất được coi trọng. Súc vật có thể phóng uế bừa bãi vì chúng là sản phẩm của tự nhiên.

Đi trên đồng cỏ là bước trên phân súc vật lưu cữu năm này qua năm khác. Nhưng bất cứ thứ gì con người thải ra là sự có ý thức phải được gom nhặt và tiêu hủy đúng chỗ. Trên đường từ Ulanbato tới đây tôi có sử dụng hộp bia và xe đang phi nước đại. Tôi định mở cửa ném vỏ ra ngoài thì anh lái Amara ngăn lại. Anh chỉ cho tôi chỗ để tạm rồi khi tới Xơlengiơ Camp, Amara lẳng lặng vứt vào thùng rác phía trước khu lều trại.

Nara phát biểu:

- Người Mongolia tôn trọng những gì thiên nhiên ban tặng. Vào rừng, trước khi vung rìu đốn cây, hãy cúi rạp mình để khấn rừng. Xuống suối lấy nước hay tắm giặt cấm được vứt lại rác rưởi đặc biệt là những quần áo bỏ đi. Trèo lên cây lấy quả thì trước tiên hãy khom người lậy xin cây ấy và cấm được làm gẫy cành...

Chùa Atharabay - Salam nằm sâu trong núi. Núi không cao so với đồng cỏ nhưng vẫn là núi. Nghe nói thời hưng thịnh trước 1937 có tới 5000 vị tu hành và hàng năm có tới 5000 phật tử từ khắp Mongolia tới đây. Rồi sau đó là thời kỳ bị khống chế. Nhà sư cũng phải xuống áo đi lính, đi lao động và đội hình tan tác mỗi người một ngả. Vật thờ cũng bị mất. Khu vực tín ngưỡng linh thiêng trở thành phế tích. Từ thập kỉ tám mươi thế kỷ trước sự hồi phục mới dần dần trở lại. Hơn bốn mươi chuyên gia và thợ giỏi nhiều nước tới, trong đó có hơn chục người Việt Nam, trùng tu khôi phục ngôi chùa. Trước cửa vào điện chính người ta dựng cây Ôbôn để mọi người quấn khăn khađắc.

Đây là tục lệ đặc biệt của người Mongolia. Cây Ôbôn có thể là cây, có thể là thân gỗ được đá xếp kín dưới chân cho vững, có thể là trụ cầu, cột biển chỉ đường gì đó, còn khăn khađắc có bảy màu nhưng chủ yếu là màu xanh. Quấn khăn khađắc vào cây Ôbôn là cầu xin sự may mắn và tặng ai đó khăn khađắc là mong mỏi yên lành.

Hội Nađôm diễn ra ba ngày đêm. Phải thời gian ấy người ta mới đọc hết sách kinh lưu giữ trong chùa. Những cuốn kinh thần thánh tượng trưng được đặt trong loạt ống tròn treo trên giá có thể xoay xoay. Khách tham quan cứ xoay lướt từng ống, xoay càng nhiều càng thể hiện mình đọc được nhiều sách kinh. Cả đất nước Mongolia diện tích 1,5 triệu cây số vuông chỉ ba nơi có thể đọc bộ kinh này thì hai ở Ulanbato và một ở giữa đồng cỏ mênh mông là chùa Atharabay - Salem.

Người từ các nơi tới dựng lều trại để mai vào nghe đọc kinh hoặc tham dự các trò vui của thảo nguyên. Dưới nắng vàng rực nhưng không hề gay gắt như nắng mùa hè ở ta, từng cặp ngựa, từng tốp ngựa, năm con, ba con, bảy con đang phi nước kiệu từ cánh đồng cỏ này sang cánh đồng cỏ khác. cũng có lúc ôtô chạy theo. Lái xe ôtô rất có thể là ông bố bám theo đứa con bé tí của mình đang ôm bờm ngựa bay trên thảo nguyên. Thi ngựa tính theo tuổi ngựa.

Một tuổi là ngựa tròn năm. Hai tuổi, ba tuổi... Chứ không tính theo tuổi người. Trẻ em sáu tuổi có thể thi ngựa cùng với người lớn. Và bình đẳng tranh giành nhau quyết liệt. Người ta bảo mỗi kỳ thi ngựa dũng cảm nhất vẫn là những ông bố. Ngựa đương ở tư thế đứng bỗng bật vào đường đua nước kiệu khiến người cha nào cũng lo đứa con nhỏ tuổi của mình có thể trượt yên bị ném vút lại phía sau. Nhờ trời, những tay kị mã tí hon này chẳng những dũng mãnh và còn đủ tinh khôn.

Phút vui dừng lại trên đồng cỏ chúng tôi quây quần. Đủ năm thành viên trong đoàn Hội Nhà văn Việt Nam. Đủ mặt bốn Chủ tịch huyện đã từng sang thăm Việt Nam. Ông giám đốc sở kinh tế Sêlinh, Viện sĩ S. Dashtsevel, chị Hoa và chị Hà, hai bạn Mongolia có tên khó nhớ chúng tôi liền gọi theo âm Việt Nam và được các chị chấp nhận... Trò chuyện với nhau chủ yếu bằng tiếng Mongolia và tiếng Nga.

Chiều hôm sau dừng chân ở thành phố Erơdenét của tỉnh Arkhon, một thành phố gần biên giới nước Nga và có nhiều dấu ấn Nga, vang vọng bên tai chúng tôi vẫn là tiếng vó ngựa rầm rập đang phi như bay trên đồng cỏ

.
.
.