Văn hào Nga Ivan Bunhin: Một đời buồn và đẹp
Với 83 năm trải rộng trên thế gian này, Bunhin đã thực sự trở thành đề tài hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu văn học bởi cuộc đời ông là "một cuộc đời sôi nổi, không bình yên, đầy cuốn hút" như nhà văn Pauxtốpxki đã nhận xét một cách xác đáng.
1. Ivan Bunhin (1870-1953) là nhà văn đầu tiên đem lại cho nước Nga giải Nôben về văn học, nhưng từng có thời, vinh quang ấy đã bị Tổ quốc của ông chối bỏ, chỉ bởi lý do: Bấy giờ Bunhin đang sống lưu vong ở nước ngoài (Bunnhin rời nước Nga từ tháng giêng năm 1920 cho đến khi ông mất vào năm 1953).
Tuy nhiên, tình yêu quê hương, đất nước, con người Nga dịu dàng nhân hậu luôn chan chứa trong tâm hồn lộng gió của Bunhin, lai láng trong các tác phẩm giàu phong vị lãng mạn của ông. Chính vì thế mà tác phẩm của Bunhin, cùng với thời gian, đã trở thành tài sản vô giá, không thể tách rời của nền văn học Nga kỳ vĩ. Đại hội Nhà văn Xôviết lần thứ hai đã nồng nhiệt vỗ tay hồi lâu khi có ý kiến nêu lên rằng Bunhin cần được trả lại cho văn học Nga.
Ivan Bunhin sinh ra tại tỉnh Vôrônhes, miền Trung nước Nga, trong một gia đình có gốc gác quý tộc lâu đời nhưng đã đến hồi suy tàn. Thời thơ ấu của ông hoàn toàn trôi qua trong cảnh tĩnh lặng của làng quê. Năm 11 tuổi, ông lên huyện học trung học nhưng do điều kiện tài chính eo hẹp, chỉ chưa đầy 4 năm, ông đã phải bỏ học về làng để rồi tiếp tục việc… tự học với người anh trai.
Là người đa cảm, rất biết lắng nghe "tiếng thủ thỉ tâm tình của thiên nhiên" nên thôn quê đã lưu lại trong ký ức Bunhin những dấu ấn thật đáng nhớ. Một nhà nghiên cứu từng đưa ra nhận định: "Giữa vùng đất đai mỡ màng và giữa những căn nhà gỗ tuềnh toàng của người dân quê, tâm hồn của chàng thiếu niên đã cảm thụ vẻ đẹp và cả nỗi buồn của nước Nga…".
Bunhin chính thức xuất hiện giữa làng văn vào năm ông 17 tuổi. Tác phẩm đầu tiên của ông được in là bài thơ "Bên mộ Nátxôn", viết về một nhà thơ Nga tài hoa mà yểu mệnh. 4 năm sau ông cho xuất bản tập thơ trữ tình đầu tiên. Năm 1897, đến lượt tập truyện ngắn đầu tiên của Bunhin "Nơi cuối trời và các truyện ngắn khác" ra mắt bạn đọc. Tên tuổi Bunhin bắt đầu được các nhà phê bình nhắc tới. Cho tới những năm đầu thế kỷ XX, Bunhin đã được xem là một tác giả đa tài: Ông nổi tiếng ở cả hai lĩnh vực: thơ và truyện ngắn. Bản thân Antôn Tsêkhốp, một người rất khó tính trong việc khen chê đã tiên liệu rằng Bunhin "sẽ trở thành một nhà văn lớn". Còn Mácxim Goócky, nhà văn đồng trang lứa với ông, trong một bức thư gửi bạn văn, đã thốt lên: "Bunhin quả là một trí tuệ trác việt. Anh ấy cảm nhận vẻ đẹp thật tinh tế".
Năm 1909, Bunhin được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Nga. Năm 1910, ông cho xuất bản tác phẩm "Nông thôn" và cuốn truyện vừa này đã trở thành chủ đề bàn luận của văn giới, đặc biệt là tầng lớp trí thức. Từ đây, một loạt truyện ngắn, truyện vừa của Bunhin nối nhau ra đời: "Cuộc đời tươi đẹp", "Một gia đình nông dân vui vẻ", "Cỏ gầy", "Quý ông từ Xan Phranxixcô đến"…, đưa Bunhin lên hàng những tác giả có vị trí nhất trong văn học Nga lúc bấy giờ.
Sau Cách mạng Tháng Mười, tương tự như trường hợp A.N. Tônxtôi (tác giả "Con đường đau khổ"), A.I.Kuprin (tác giả "Cánh buồm đỏ thắm"), Bunhin đã chuyển ra sống tại nước ngoài, chủ yếu là ở Pháp. Các tác phẩm đỉnh cao của Bunhin như tiểu thuyết "Cuộc đời Axênhiép", tập truyện "Những con đường rợp bóng cây"… ra đời trong thời kỳ này. Mặc dù mang thân phận lưu vong, song tâm trí của Bunhin không lúc nào nguôi ngoai nhớ về cố quốc. Trước khi Đức tấn công Ba Lan một ngày, mở màn cho cuộc Đại chiến thế giới lần thứ II, ngày 3-9-1939, Bunhin đã gửi cho A. N.Tônxtôi bức bưu thiếp với dòng chữ nhắn nhủ: "Tôi muốn về nước". Khi Đức phát xít chiếm được Pháp, cánh báo chí thân Đức tìm cách lôi kéo Bunhin, mời ông viết bài cho họ, song Bunhin nhất quyết cự tuyệt.
Sau chiến tranh, Bunhin nhiều lần có ý định trở về thăm quê hương, song vì điều kiện sức khỏe (bấy giờ ông đã gần 80 tuổi), nguyện vọng của Bunhin không thực hiện được. Năm 1953, tại thủ đô nước Pháp, Bunhin đã trút hơi thở cuối cùng.
Trong diễn từ đọc tại tiệc chiêu đãi giải thưởng Nôben ngày 12/10/1933 dành cho Bunhin tại Xtốckhôm (Thụy Điển), Bunhin đã bày tỏ sự bất ngờ và lòng biết ơn trước việc Viện hàn Lâm Thụy Điển "Lần đầu tiên kể từ khi thành lập, giải Nôben của quý vị được trao cho một kẻ lưu vong", song ông cũng không quên nhắc lại rằng, với ông: "Suốt 15 năm qua, nỗi buồn của tôi luôn nhiều hơn niềm vui". Quả là vui sao được khi - như ông tâm sự: "Lẽ nào chúng ta có thể quên Tổ quốc. Liệu con người có thể quên được nơi chôn nhau cắt rốn của mình chăng?... Tự cội rễ, tôi là một người Nga chính cống. Thời gian không xóa đi được điều này". Bunhin cũng là tác giả câu nói trứ danh "Dẫu có buồn trong thế giới này khó hiểu, thế giới này vẫn đẹp".
2. Bunhin là người có lối sống ưu tư, mơ mộng của một nhà thơ (bạn đọc Việt
Lại nói về cái ngày Bunhin đến Xtốckhôm (Thụy Điển) để nhận giải Nôben. Hiện trong lưu trữ, người ta còn giữ được bức ảnh Bunhin đứng cạnh nhà vua Thụy Điển. Cạnh đó, bà Vêra Nhicôlaiépna Murômxêva, vợ ông, khuôn mặt rạng rỡ đang bắt tay công chúa, và sau lưng bà là một cô gái trẻ, vóc dáng nhỏ bé, đang mỉm cười.
Cô gái trẻ này không phải ai khác mà là nữ thi sĩ (kiêm văn sĩ) tài năng Galina Nhicôlaiépna Kudơnexôva. Khi Bunhin gặp cô, ông đã ở tuổi ngoài sáu mươi. Dẫu vậy, ông vẫn còn không ít tố chất để chinh phục phụ nữ. Vóc dáng cân đối, bước đi nhanh nhẹn, đôi mắt hết sức "linh hoạt", đầy biểu cảm, có thể chuyển từ màu xám sang màu xanh da trời trong thoáng chốc. Và trên tất cả, ông là một nhà văn, tác giả những câu chuyện tuyệt tác về tình yêu, một nhà văn kiêm "diễn viên hạng nhất", có thể nhanh chóng vào vai người này người khác để ứng phó với mọi tình huống.
Bà Vêra, vợ Bunhin khi còn trẻ là một phụ nữ xinh đẹp, kiểu cách quý phái. Gương mặt bà, nhìn nghiêng, trông chẳng khác một pho tượng cổ. Mái tóc bà dày và mượt, mắt tròn to toát lên vẻ đẹp ngây thơ trong sáng. Hai người gắn bó với nhau trong suốt năm mươi năm, dắt nhau đi trên những đoạn lồi lõm, khúc khuỷu nhất của cuộc đời. Là một phụ nữ thông minh, có học vấn (Vêra Nhicôlaiépna rất giỏi ngoại ngữ, bà từng là một dịch giả). Vêra Nhicôlaiépna thực sự trở thành niềm tự hào của Bunhin. Nhiều phen ông phải phát ghen vì những "phiền phức" phát sinh xung quanh sức thu hút, quyến rũ của vợ.
Ấy vậy mà khi gặp Galina, Bunhin như quên hết tất cả. Ông thẫn thờ như kẻ mất hồn. Thái độ của ông đã khiến cho Galina cũng phải theo ông mà cuốn vào "vòng xoáy" ái tình. Họ gặp nhau ngày một nhiều hơn: Khi thì trên bãi biển, lúc trong quán cà phê, sau đó là trong khách sạn.
Cuối cùng, Galina được bố trí đến ở với gia đình Bunhin. Để "ngụy trang", Bunhin giới thiệu với vợ rằng Galina chỉ là một cô trò nhỏ đang theo học nghề văn. Dĩ nhiên, bằng sự thông minh, nhạy cảm của mình, Vêra Nhicôlaiépna chẳng khó khăn gì mà không nhận ra thực chất của mối quan hệ "thầy trò" này. Song có điều, mấy chục năm trời sống bên chồng, bà quá hiểu tính cách của ông và bởi vậy mà bà đã khéo léo dàn xếp để mọi sự chỉ có thể tiếp diễn ở một chừng mực có thể chấp nhận được. Ở đây, Vêra phải cố lắm mới kìm nén được nỗi đau khổ, dằn vặt. Có lần, bà tâm sự với một người bạn gái (qua đây ta có thể hiểu được những hy sinh lớn lao của người phụ nữ đã trót lấy phải ông chồng thuộc vào giới "văn nghệ sĩ"): "Cần phải hiểu, thông cảm và tha thứ tất cả những đam mê, không chỉ những đam mê đã qua, mà cả những đam mê có thể xảy ra. Cần phải hiểu sự khao khát những ấn tượng mới, cảm giác mới vốn là đặc trưng của giới văn nghệ sĩ. Nó cũng cần thiết như chất men mà, nếu thiếu đi thì họ không thể sáng tạo được".
Và Vêra Nhicôlaiépna khẳng định, cái "đam mê" (tức tình cảm với phụ nữ) mà bà vừa nói "không phải là mục đích mà là phương tiện của họ".
Nhờ sự lịch lãm, lối ứng xử đầy "nghệ thuật", sâu sắc nước đời của Vêra Nhicôlaiépna mà Gailina đã tồn tại được trong gia đình Bunhin tới 15 năm. Tuy nhiên, nói như Nguyễn Du (trong "Truyện Kiều"): "Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai", sự chịu đựng của Vêra là vô cùng lớn lao, vĩ đại. Thái độ của bà chỉ bộc lộ rõ rệt sau khi Bunhin qua đời. Ấy là vào năm 1958, khi cho xuất bản cuốn "Cuộc đời Bunhin", trong hồi ức về người chồng thân yêu của mình, Vêra Nhicôlaiépna chỉ nhắc tới cái tên Galina vẻn vẹn có… 3 lần
