Văn hào G-Garcia Marquez và thông điệp về sự cô đơn
Giống như Yasunari đã viết về nỗi buồn, Solokhov viết sử thi của người Kozac bên bờ sông Đông, Hemingway viết về lòng dũng cảm của con người... trong hơn sáu chục năm cầm bút, Márquez đã viết nên ngót hai chục cuốn tiểu thuyết, gần một trăm truyện ngắn và một số kịch bản phim truyện. Song ông vẫn cho rằng, cuốn sách cuộc đời ông là cuốn sách về "cái cô đơn". Tác giả tiểu thuyết “Trăm năm cô đơn” đã miêu tả, mổ xẻ, huyền ảo hóa "cái cô đơn" để gửi gắm một thông điệp cuộc sống.
Gabriel Garcia Márquez khởi đầu sự nghiệp sáng tác rất sớm, khi đang là sinh viên của Trường đại học Quốc gia
"Trăm năm cô đơn" được Márquez chính thức viết năm 1965, đến năm 1967 thì hoàn thành và đưa đi xuất bản. Nhưng theo như lời ông nói, "Trăm năm cô đơn" đã được ông "hoài thai" từ gần hai mươi năm trước. Đó là quãng thời gian ông làm nghề báo và viết các tiểu thuyết đầu tay, như: "Ngôi nhà", "Bão lá", "Một trong những ngày này", " Ngài đại tá chờ thư", "Đôi mắt chó xanh", "Đám tang bà mẹ vĩ đại"... Ông cho rằng, việc viết các tiểu thuyết trên là viết "bản thảo lần đầu" cho "Trăm năm cô đơn".
Vào một ngày đẹp trời của năm 1965, Márquez nói với vợ mình là nàng Mecxedet Baccha xinh đẹp rằng: "Từ hôm nay, em hãy lo chuyện nhà cửa để anh chuyên viết sách". Liên tục trong mười tám tháng, ngày nào cũng như ngày nào, bắt đầu từ tám giờ sáng đến ba giờ chiều, Márquez giam mình trên gác xép, cặm cụi viết. Mỗi ngày ông chỉ viết nửa trang bản thảo, sửa đi, sửa lại cho thật hoàn chỉnh. Nhưng đến khi viết được hai trăm trang, ông đã xé bỏ bản thảo để viết lại từ đầu, vì nhận thấy "hơi văn" trong cuốn sách của mình na ná giống "hơi văn" trong "Thế kỷ ánh sáng" của Alêhô Cacpentiê.
Để có tiền gửi bản thảo tới Nhà xuất bản Nam Mỹ ở
Điều gì khiến "Trăm năm cô đơn"- một tiểu thuyết theo chủ nghĩa "hiện thực huyền ảo", dày tới hơn 600 trang, chỉ kể về câu chuyện loạn luân của một dòng họ ở một ngôi làng "huyền thoại", giành được giải thưởng Nobel Văn học? Phải chăng tác phẩm đã đạt tới hai tiêu chí cơ bản của giải thưởng. Đó là bút pháp độc đáo, mới mẻ và ý nghĩa nhân văn của thông điệp tác phẩm gửi tới người đọc.
"Trăm năm cô đơn" được đánh giá là sản phẩm tuyệt vời của hư cấu nghệ thuật. Với bút pháp "hiện thực huyền ảo", Márquez đã dựng nên một ngôi làng có tên gọi Macondo. Đó là ngôi làng không một người dân nào sống quá ba mươi tuổi và chưa có nghĩa địa, đã từng xảy ra những chuyện hoang đường như cơn mưa hoa trong một đám tang, những con người được hoài thai bởi bướm và bọ cạp, những người có đuôi, có người bay lên trời không trở lại... ở ngôi làng đó, những người con trai và con gái cùng huyết thống đã yêu nhau, lấy nhau, sinh ra những đứa con dị tật có đuôi như lợn hoặc như khỉ!
Nỗi ám ảnh về tội loạn luân đã đẩy những con người nơi đây chìm sâu vào nỗi cô đơn. Họ cô đơn trong ngôi nhà của mình. Cô đơn giữa những người thân thuộc. Cô đơn trên chiếc giường của mình, trong giấc mơ của mình... Cuối cùng, sau một trăm năm sống trong cô đơn, làng Macondo bị một cơn cuồng phong cuốn mất khỏi thế giới. Rõ ràng là, về phương diện xã hội, Márquez muốn viện dẫn một vấn đề có tính quy luật. Đó là, nếu anh đơn lẻ trong cuộc đấu tranh với thiên nhiên và con người, anh sẽ thất bại. Nếu anh khép mình, đóng kín, quay lưng lại với thế giới, đi ngược lại những quy luật vốn có, anh sẽ bị hủy diệt. Tương tự như thế, đất nước Colombia cùng với lục địa Mỹ Latinh nếu đóng cửa, tuyệt giao với thế giới bên ngoài, sẽ vĩnh viễn bị giam cầm trong lạc hậu, đói nghèo.
Còn về thông điệp, Márquez muốn nhắn nhủ một điều giản dị, nhưng sâu đậm tính nhân văn: Mọi người hãy sống đúng bản chất người - tổng hòa các mối quan hệ xã hội của mình, hãy vượt qua mọi định kiến, thành kiến cá nhân, hãy lấp bằng mọi hố ngăn cách cá nhân để cá nhân tự hòa đồng với gia đình, xã hội. Con người phải đoàn kết lại. Đoàn kết để tạo ra "một thiên huyền thoại khác hẳn. Một huyền thoại mới, hấp dẫn, của cuộc sống, nơi mà không ai bị kẻ khác định đoạt số phận mình, ngay cả cái cách thức chết, nơi tình yêu có lối thoát và hạnh phúc là cái có khả năng thực sự, và nơi những dòng họ bị kết án trăm năm cô đơn, cuối cùng và mãi mãi sẽ có vận may lần thứ hai để tái sinh trên trái đất này!".
Sau khi đoạt giải Nobel Văn học, năm 1985, Márquez tiếp tục chứng tỏ khả năng bứt phá bằng "Tình yêu thời thổ tả", cuốn tiểu thuyết được ông xây dựng trên nguyên mẫu mối tình của cha mẹ mình. Đó là một mối tình bền vững, dẫu người cha có con ngoài giá thú! Tác phẩm được đánh giá là "một trong những cuốn tiểu thuyết hay nhất về tình yêu mà con người có thể viết nên", là "Romeo và Juliette của thế kỷ XX".
Rất nhiều người cho rằng, "Tình yêu thời thổ tả" còn hay hơn cả "Trăm năm cô đơn". Cái hay của tác phẩm là chỗ, vẫn "cày xới" một "mảnh đất truyền thống" là tình yêu, nhưng tác phẩm đã đạt tới một đỉnh cao mới bởi tính độc đáo và lạ lùng của nó. Có lẽ trước Márquez, chưa một nhà văn nào viết về một mối tình lạ như mối tình của Phecmina Đaxa và Phlôrêntinô Arixa trong "Tình yêu thời thổ tả". Họ giống như rất nhiều cặp tình nhân không lấy được nhau nhưng vẫn yêu nhau. Nhưng họ khác biệt ở cái "cách thức yêu". Họ yêu nhau bằng sự chờ đợi, không nổi loạn, không cướp đoạt, không vụng trộm. Chờ hết quá nửa đời người, cho đến khi ông chồng của Đaxa chết vì quá già. Nhưng ngày gặp lại, cả hai đều đã thuộc vào lớp "thất thập cổ lai hy", răng long, tóc bạc, chân chậm, mắt mờ.
Trong con mắt của "người trần mắt thịt", họ không còn "sức" để yêu nữa. Thế mà họ lại rủ nhau trốn lên một chiếc tàu thủy, giương lên một lá cờ màu vàng để thông báo trên tàu có người bị thổ tả, cốt tránh sự kiểm soát và dòm ngó. Trên "vương quốc của dịch tả", họ tha hồ yêu nhau, yêu như chưa bao giờ được yêu. Yêu như những nam thanh nữ tú mới lớn...Và vì để được ở bên nhau, con tàu của họ cứ chạy đi, chạy lại trên dòng Mắcgơđalêna, không cập mạn bất cứ một bến nào. Bằng cách đó, nỗi cô đơn ngự trị trong trái tim hai người trong "Năm Mươi Ba Năm Bảy Tháng Mười Một Ngày và Đêm" đã được dỡ bỏ và lấp đầy bởi tình yêu đích thực. Phải chăng, chủ nghĩa "hiện thực huyền ảo"đã giúp tác giả chuyển tải được tất cả những điều được coi là lạ lùng và độc đáo đó! Tình dục được phô diễn ở mọi cấp độ khiến tác phẩm khi ra đời đã gây nên một cú sốc cực mạnh và trở thành cuốn sách ăn khách nhất.
"Tình yêu thời thổ tả" là sự suy nghĩ về tình yêu của con người ở mọi lứa tuổi. Con người không chỉ yêu nhau khi đang độ thanh xuân, mà còn yêu nhau khi đã răng long tóc bạc, và chính ở tuổi này họ yêu nhau chân thực hơn, da diết hơn, si mê hơn. Tình yêu là chiếc chìa khóa vàng giúp con người mở tâm hồn mình để hòa đồng với nhau, để chống lại nỗi cô đơn muôn thuở. Với nụ cười hóm hỉnh, Márquez dường như đang cảnh tỉnh những ai đang đùa bỡn với tình yêu, lợi dụng tình yêu đề thỏa mãn nhục dục của mình. Những người đó hãy coi chừng với nỗi cô đơn, vì sớm muộn nó cũng sẽ nuốt chửng bọn họ sau khi nhục dục đã được thỏa mãn.
Ông Scott Steindoff của xưởng phim Hollyword rất ấn tượng bởi "Tình yêu thời thổ tả". Ông cho rằng: "Cùng với Romeo và Juliette của đại văn hào Anh W. Shakespeare, đây là câu chuyện tình lớn nhất cho tới nay được kể ra. Nó đã khiến hầu hết các bậc mày râu chúng ta thấy mình thực sự bất hạnh bởi không được tận hưởng vẻ đẹp lãng mạn của tình yêu đó!". Do đó, ông đã quyết định mua bản quyền "Tình yêu thời thổ tả" chuyển thể thành phim màn ảnh rộng, với giá ba triệu đôla
