Từ cậu bé thổi kèn trở thành nhạc sĩ lớn
Cái thời sơ tán vì sự đánh phá của không quân Hoa Kỳ đó, khiến cho cơ quan tôi dạt cả về một làng quê mà bên tây đầy núi non là vùng quê chùa Hương. Cái sự sơ tán ấy hóa ra nhiều điều kỳ thú. Khi còn ở Hà Nội, thì tuy cùng cơ quan đấy, nhưng mấy ai mà đến nhà ai la cà đâu, chủ có mời thì khách mới tới; thế nên gần đấy mà xa đấy. Còn cùng sống ở vùng quê sơ tán thì lại hoàn toàn khác hẳn, chỗ làm việc thời cũng là chỗ ở, chỗ sinh hoạt hàng ngày, vì vậy sự thân thiết gần gụi và gắn bó cũng thật là đương nhiên và như nhiên. Tôi quen rồi trở nên thân với nhạc sĩ Đỗ Nhuận từ lúc nào không hay. Sự quen quen và thân thân này bắt nguồn là những buổi tối, anh em trong phòng thường tụ tập tại nhà anh Đỗ Nhuận ở nhờ để tâm giao, chuyện trò. Và có thể nói suốt đời tôi, tôi không bao giờ có thể quên được vô vàn những kỷ niệm về nhạc sĩ Đỗ Nhuận.
Nhạc sĩ Đỗ Nhuận kể cho tôi và lũ nhân viên sàn sàn tuổi tôi bấy giờ vẫn được coi là một lũ nhóc tì, rằng đã có thời anh ở trong phường bát âm để thổi kèn cho những đám hiếu (đám tang). Nghe anh nói mà "lũ trẻ ranh" chúng tôi cười lăn cười lộn. Anh bảo: "Tao không nói dối đâu. Nghe đây, lũ nhóc con", rồi anh ra chỗ giường anh vẫn nằm, lôi trong balô ra một chiếc kèm đám ma. ấy là tôi gọi thế, vì vẫn quen gọi thế. Nhưng chiếc kèn này có tên của nó, cái tên nghe rất sướng tai, đó gọi là kèn bóp, hoặc có một cái tên nữa là kèn dăm, vì nó có những hai cái lưỡi gà bằng cật tre, lưỡi gà thì người có chuyên môn gọi là dăm kép.
Nhạc sĩ Đỗ Nhuận đem chiếc kèn bóp ra, ngồi chỉnh chiện trên một chiếc ghế sa lông gỗ mà chủ nhà đã dành riêng cho anh, để khi anh làm việc. Anh nhìn chúng tôi một lượt, rồi nói to với ông chủ nhà vui tính: "Bác Thừng ơi, tôi thổi cái kèn đám ma này để làm thí dụ về âm nhạc, bộ hơi cho cánh trẻ này họ nghe nhé". Ông chủ nhà cười vang, đáp: "Vâng vâng, anh cứ tự nhiên ạ".
Đỗ Nhuận nói với chúng tôi: "Phải có xin phép thế, kẻo rồi lúc thổi lên, người nhà hàng xóm lại bất ngờ thì khốn". Tôi nghe anh nói và nghĩ ngay: "Anh quả là người từng trải...". Nhạc sĩ Đỗ Nhuận nói: "Nào, bắt đầu nhé" rồi anh ngậm cặp môi vào lưỡi kèn bóp và hai má anh hơi phồng lên, hai mắt anh nháy nháy cực là tinh nghịch: Tí tí tí tí te te te te tò tò tò tọ tọ tọ tọ tì tì tì tì te te. Ôi chao, nghe cực sướng hai cái lỗ nhĩ, chúng tôi vỗ tay ran và cười nghiêng ngả. Nhạc sĩ Đỗ Nhuận nhả lưỡi kèn bóp, thong thả nói: "Nghĩa của câu nhạc kèn bóp này là, nói ra tiếng nói nhé: ối ối ối ối, cô dì chú bác ơi, ông ấy nhà tôi bỏ bỏ bỏ tôi tôi mà đi rồi rồi rồi". Chúng tôi gật đầu lia lịa vì thấy sự diễn ý của nhạc sĩ về điệu kèn bóp quả là tài tình.
Có người nào đó bất chợt hỏi: "Anh ơi, thế có thổi được bài "Giải phóng Điện Biên" bằng kèn bóp được không?". Nhạc sĩ Đỗ Nhuận liền ngậm ngay lưỡi kèn, nói: "Nghe nhé... Tò tí tò te tò tò te tí te te tò tọ tê tỉ ti". Ôi giời ơi là giời, tất cả chúng tôi nhẩy cẫng lên mà hoan hô và vỗ đến rát bỏng cả hai bàn tay vì sướng, sự sung sướng lan đến tận chân tóc. Nhạc sĩ Đỗ Nhuận nói to: "Các chú là hay coi thường nhạc cụ dân gian lắm. Cái gì cũng chỉ thích nhạc tây, viôlông, pianô, vân vân. Còn nhạc dân gian ta thì coi thường. ấy là hỏng là không được, phải biết yêu những gì dân tộc mình có". Chúng tôi vỗ tay ran tưởng thưởng điều anh nói và từ buổi tối hôm ấy với những buổi sinh hoạt văn hóa, âm nhạc sau đó, chúng tôi đã dần dần sáng mắt ra về những kiến thức âm nhạc mà nhạc sĩ Đỗ Nhuận truyền lại cho chúng tôi.
Cuối tuần trăng tháng 5, mùa hoa phượng của năm Nhâm Tuất (1922), tại vườn ổi, trong một chiếc cót quây tròn trên ổ rơm, lót manh chiếu rách, vào nửa đêm trời mưa rất to, đùng đùng sấm chớp, bà mẹ anh sinh ra anh. Vì nhà chật không có buồng con, các cụ kiêng cữ nên không cho mẹ anh sinh anh ở trong nhà. Nơi nhà anh ngụ cư là thôn Vạc, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Bà cụ còn kể rằng, chẳng hiểu sao, anh sinh ra, một tháng sau mới mở được hai con mắt. Vì năm đó nhuận hai tháng 5, cha anh đặt tên cho anh là Nhuận. Cha anh còn bảo, không cần tên đệm, cứ gọi là Đỗ Nhuận cho gọn.
Đúng năm sinh ra anh, cha anh bị Pháp bắt lính, đóng ở Hải Phòng. Để trốn việc Pháp bắt lính thợ đưa qua Pháp, dùng đánh Đức, ông tìm cách để chó cắn, vờ kêu chó dại, phải đi nhà thương. Sau khi khỏi thì hết đợt bắt lính thợ, ông xin sang làm lính kèn. Cả nhà anh có bốn người, ở trong một căn nhà lợp ngói thấp tè rộng 15 mét vuông, đồ đạc có hai giường, một rương, một trạn bát. Mẹ và chị anh hàng ngày đi làm thợ ở sở máy tơ Hải Phòng. Lương của cả ba người gộp lại mới đủ nuôi cho anh ăn học. Bấy giờ anh học trường tư, mái lá, xóm Nhà bè, cách làng Lọc Viên nhà anh ở 2 km. Chính ở mái trường này, anh được học nhạc qua học đánh trống (vì trống là bộ gõ của nhạc mà). Cha anh học nghệ thuật thổi kèn rất chăm chỉ, và chỉ thời gian sau ông đã thổi được bài. Cứ buổi chiều chiều học xong, anh đi nhanh đến trại kèn của cha, vừa làm chân đưa cơm cho cha, vừa xem dàn kèn thổi.
Ngoài tài thổi kèn, cha anh còn sáng tác một bài hát dựa theo bài quốc ca Pháp. Ông hát lại cho con trai ông nghe. Và cậu trai Đỗ Nhuận thuộc lầu.
Năm 1936, Mặt trận Bình Dân ra đời tại Hải Phòng. Người chị của anh làm ở Nhà máy tơ đem tài liệu và truyền đơn về cho anh đọc trước khi đem đi rải. Anh đọc và nhớ ngay câu đầu: "Hỡi quốc dân đồng bào, đế quốc Pháp...". Học họa một năm sau thì cha anh ra lính, trở về quê làm ruộng. Mẹ và chị việc làm khi có khi không, chị lại lấy chồng. Trước tình cảnh ngặt nghèo, anh báo cáo với tổ chức, mà người phụ trách anh là thầy giáo Đối. Thầy nói: Bây giờ cần gây phong trào Cách mạng ở Hải Dương, em về đó làm hương sư rồi cùng với mấy anh nữa đang có mặt ở đó thành lập tổ chức, lặng lẽ tìm quần chúng tốt rồi phát động thành phong trào". Anh hương sư Đỗ Nhuận được cử về một làng quê gần huyện Kim Thành, Hải Dương.
Những năm 1941, 1942, tình hình trong nước và thế giới có nhiều biến chuyển phức tạp, Đỗ Nhuận càng tích cực hoạt động. Ngày kỷ niệm thành lập Đảng, anh đề xuất với tổ chức phải có truyền đơn để rải khắp huyện và treo cờ đỏ búa liềm trên cầu Sáo. Thế rồi, tối mồng 5/1/1943, anh và ba, bốn đồng chí nữa cuốn lá cờ búa liềm (mà anh trực tiếp may) bí mật rời khỏi nhà. Có anh em bảo vệ, 12 giờ đêm không trăng sao, anh cài cán cờ đã lồng chắc lá cờ búa liềm, hăm hở leo lên đỉnh cột cầu Sái, buộc chắc chắn. Sáng sớm hôm sau, tin loang rất nhanh ra toàn huyện Kim Thành rằng cờ Đảng Cộng sản bay phần phật trên đỉnh cầu.
Thực dân Pháp và bọn tay sai đàn áp, lùng sục. Chúng bắt anh vì nghi anh đã cùng các đồng chí treo cờ trên đỉnh cầu Sái. Chúng tra tấn anh, hỏi anh cùng với những ai treo cờ. Anh bảo: Một mình tôi. Chúng hỏi ai mang cờ. Anh cũng bảo một mình anh. Chúng giam anh trong xà lim. Một bạn tù của anh đã bị tra tấn đến chết, song anh không khuất phục. Bọn Pháp ở Hải Dương đưa anh và các đồng chí của anh lên Hỏa Lò, Hà Nội. ở Hỏa Lò, anh cặm cụi làm một ống tiêu để thổi các bài hát Cách mạng. Và ở đây anh đã gặp đồng chí Lý (bí danh của đồng chí Hoàng Văn Thụ).
Ngày 1/5/1944, đồng chí Hoàng Văn Thụ bị địch đưa ra hành quyết. Được tin này, anh em cử một bạn tù ngâm thật to, thật vang bài thơ Chặt xiềng của đồng chí Hoàng Văn Thụ. Còn Đỗ Nhuận thì thổi tiêu đệm theo. Tiếng ngâm thơ và tiếng tiêu vang khắp các gian tù, động viên tinh thần bất khuất của các đồng chí đang bị giam cầm ở đây.
Bọn Pháp lại đưa Đỗ Nhuận ra tòa. Đứng trước tòa, bọn chúng chất vấn anh câu nào, anh đập lại câu ấy, và hát vang lên: "Bớ công nông! Phất cờ lên/ Bớ công nông. Phất cờ lên/ Cờ giương đỏ chói sao vàng tiên phong...". Quan tòa đập bàn, mặc, anh vẫn hát. Chúng xử anh ba năm tù về tội tuyên truyền cộng sản, đày anh đi Sơn La. Trước khi đi Sơn La, để tiễn các đồng chí đi Côn Đảo, anh làm "Bài hát Côn Đảo": "Kìa xa xa nơi Côn Đảo/ Sóng nước muôn trùng...". Bị giam ở nhà tù Sơn La, Đỗ Nhuận sáng tác bài hát "Hận Sơn La", trong đó có câu: "Sơn la... Sơn La/ Tiếng than uất ức của đoàn tù".
Đỗ Nhuận là nhạc sĩ có nhiều đóng góp cho sự nghiệp cách mạng, với các ca khúc từng ghi dấu ấn sâu đậm trong từng thời kỳ lịch sử, trong đó có những tác phẩm chắc chắn sẽ là những "bài hát đi cùng năm tháng" như: "Du kích ca", "Nhớ chiến khu", "áo mùa đông", "Giải phóng Điện Biên", "Việt Nam quê hương tôi"... Ghi nhận những đóng góp to lớn của nhạc sĩ Đỗ Nhuận, Nhà nước ta đã trao tặng và truy tặng anh Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt I), Huân chương Độc lập hạng II. Riêng tôi, mỗi lần nhớ về anh, tôi lại thầm nhớ về một cậu bé thổi kèn ngày nào đã không ngừng học hỏi, vươn lên để trở thành một trong những nghệ sĩ lớn của nền văn nghệ cách mạng...
