Tình xưa nghĩa cũ

Thứ Tư, 28/01/2009, 16:00
Giữa nhộn nhạo những bon chen, tỵ hiềm, cơ hội... ta bắt gặp một tấm lòng hào hiệp, nghĩa tình, có khác nào gặp tri kỷ, tri âm. Tôi muốn nhắc tới câu chuyện diễn ra vào một ngày Hà Nội và một số tỉnh miền Bắc vừa xảy ra tai biến - lũ và lụt - trận lụt lịch sử đã làm bao làng quê điêu đứng.

Một buổi chiều, tôi nhận được điện thoại của nhà báo Mai Sông Bé, Giám đốc Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Đồng Nai thông báo vừa ở phía Nam ra, sẽ tới thăm, chuyển thư và quà của người chị kết nghĩa của tôi - bà Phạm Chi Lan (Tư Thu) - một cán bộ thuộc lực lượng Tình báo, công tác tại J22 trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ.

Mai Sông Bé là con nuôi bà Tư Thu, lần đầu tới nhà, nên tôi cố thuyết phục anh ở lại chơi với gia đình, ít ra cũng phải ngủ lại một tối để hàn huyên, để "lai rai" với nhau. Cứ coi đó là buổi tất niên năm Mậu Tý trước thời hạn.

Lời thuyết phục của tôi nghe như rất có lý, hợp tình. Cứ nhìn vào gương mặt đầy nỗi băn khoăn của khách là biết. Ngập ngừng đắn đo mãi, cuối cùng thì "ông cháu nhà báo" vẫn nêu ra được lý do từ chối rất ư là chính đáng:

- Cậu Ba ạ! Lý ra là cháu phải ở chơi với cậu mợ và các em, nhưng kẹt quá. Vì tối nay đã phải họp Đoàn cán bộ Đồng Nai để sớm mai đi Hà Nam trao học bổng cho học sinh một số trường trong tỉnh. Vì trong kháng chiến chống Mỹ, Hà Nam và Biên Hòa (nay là tỉnh Đồng Nai) là hai tỉnh kết nghĩa. Chiều mai cháu phải bay về. Vì đang kẹt công việc trong đó...

Tôi lặng đi trong lời tâm sự, giãi bày của khách. Dường như hai khóe mắt cay cay. Không phải xuất phát từ nỗi buồn bởi lời mời không "đắt giá", mà nó xuất phát từ lời tâm sự, giãi bày của khách, đã tạo sự xúc động bất ngờ đối với tôi. Cứu trợ, ủng hộ đồng bào gặp thiên tai.

Với tinh thần "Thương người như thể thương thân", "lá lành đùm lá rách"... Trở thành nghĩa cử cao đẹp, trở thành truyền thống mà lâu nay nhân dân ta đã làm. Song, ở đây, tôi muốn nói tới việc làm của cấp ủy Đảng và nhân dân Đồng Nai dịp này, nó mang thêm ý nghĩa của "tình cũ nghĩa xưa" mà dường như lâu lắm tôi mới có dịp chứng kiến.

Như chúng ta đều biết, trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc giai đoạn 1954 - 1975, có biết bao nghĩa cử cao đẹp, tình cảm ấm nồng biểu thị tấm lòng của nhân dân hai miền Nam Bắc: "Thóc (hoặc thuế) không thiếu một cân, quân không thiếu một người", "Tất cả vì đồng bào miền Nam ruột thịt", "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước...", "Tất cả vì miền Nam, vì chiến thắng quân xâm lược", "Miền Nam gọi, chúng tôi luôn sẵn sàng"...

Để đáp lại tấm lòng đó, quân và dân miền Nam đã nêu cao ý chí kiên cường bằng những hành động cụ thể: "Vì nghĩa tình với đồng bào miền Bắc yêu thương, hãy dũng cảm tiến lên", "Để trả thù cho đồng bào Khâm Thiên, cho nhân dân Hà Nội, nhằm thẳng vào quân thù - bắn!..."...

Tất cả những điều đó đã khắc ghi trong tâm khảm chúng tôi, những cán bộ, chiến sĩ quê hương miền Bắc được vinh dự chi viện cho chiến trường miền Nam.

Một sự kiện hết sức quan trọng, thể hiện đặc trưng của nghĩa tình son sắt Bắc  - Nam, đó là hình thức tổ chức kết nghĩa giữa các địa phương miền Bắc với các địa phương miền Nam. Tôi không nhớ chính xác thời gian, chỉ biết rằng khi vào hoạt động ở chiến trường miền Đông Nam Bộ thì phong trào kết nghĩa đã lan rộng khắp nơi.

Hà Nội kết nghĩa với Huế và Sài Gòn; Hải Phòng với Đà Nẵng; Thái Bình với Trà Vinh; Xứ Đoài Sơn Tây quê tôi kết nghĩa với Tây Ninh; Phú Thọ với Long Châu Sa... Sau này về hoạt động ở "quê dừa đồng khởi" mới biết Bến Tre kết nghĩa với Vĩnh Phúc...

Vẫn biết, người chiến sĩ cách mạng thì tình yêu thương đồng đội, đồng chí, đồng bào là thiêng liêng, cao quý. Song, sống xa quê hương, gia đình, đôi khi những người đồng hương sống với nhau vẫn cảm thấy gần gũi, ấm áp hơn. Dường như tâm lý người Á châu chúng ta đều thế.--PageBreak--

Nói về chuyện đồng hương kết nghĩa, bỗng dưng tôi nhớ tới mấy kỷ niệm vui vui những năm mới vào chiến trường. Đó là cái tết Đinh Mùi (1967). Hồi đó đơn vị tôi về bám trụ ở khu vực cửa ngõ chiến khu "Đ".

Trong một cuộc họp liên cơ (nhiều cơ quan) bàn công tác phối hợp bảo vệ tết, trong khi chờ khai mạc, anh em tự phát tổ chức văn nghệ. Sau mấy bài hát là tới tiết mục tìm đồng hương. Nhớ cuộc họp trước, tôi biết dân Sơn Tây mình quá khiêm tốn về số lượng vì chỉ có hai người.

Không ngờ lần này, khi "quản ca" điểm tới Sơn Tây thì có tới sáu cánh tay giơ lên. Tôi như không tin vào mắt mình, liền đi xuống phía cuối phòng họp, chỗ bốn anh bạn trẻ đồng hương: "Này, cậu quê ở huyện nào vậy?". Giọng Nam Bộ đặc sệt, anh bạn khẽ cười: "Dạ... em quê Trảng Bàng". Tôi ớ người, vỗ vao vai người thứ hai - "Còn cậu?". "Dạ... Em ở Châu Thành...".

Bỗng có tiếng một người ở hàng ghế sau tru tréo lên:

- Nhận vơ! Nhận vơ rồi… Mấy anh bạn trẻ này người Nam rõ ràng mà dám nhận là dân "Conbovang" (con bò vàng - nhại tiếng một số huyện của Sơn Tây).

Một trong số hai người tôi chưa kịp hỏi, liền đứng lên với giọng điệu rất tự tin, hùng biện:

- Ừa… Tụi tôi là dân Tây Ninh chánh hiệu. Tây Ninh kết nghĩa với Sơn Tây. "Dậy"… Tụi tôi nhận đồng hương kết nghĩa chớ bộ. "Dậy" - mấy anh cũng nhận đồng hương kết nghĩa đi. Tụi này đâu có thắc mắc.

Tiếng cười rộ lên:

- "Được! Được đấy… Một gợi ý tuyệt "dời". Lần sau nên điểm danh theo mô hình đồng hương kết nghĩa.

Ngồi kế tôi là một anh bạn quê Hưng Yên, dáng thư sinh. Chắc mới vào nên cái màu da còn mượt lắm. Anh tâm sự:

- Hưng Yên kết nghĩa với Tân An. Chắc Tân An ở xa nên từ ngày vào đây, hơn nửa năm rồi mà chưa gặp ai là người đồng hương kết nghĩa

- Ờ… Tân An thuộc đồng bằng Nam Bộ. Phải vượt qua Sài Gòn mới tới!

Tôi hỏi anh về những hoạt động cụ thể của phong trào kết nghĩa gần đây. Anh hào hứng cho biết:

- Phong trào liên tục phát triển. Tùy đặc thù của mỗi địa phương mà đề ra chương trình với những hoạt động thích hợp. Ví dụ như ở Việt Trì, Phú Thọ, người ta xây dựng một rạp chiếu bóng lấy tên là Long - Châu - Sa (tỉnh kết nghĩa).

Vì hồi đó Long Xuyên, Châu Đốc, Sa Đéc là một tỉnh; Thái Bình, với phong trào 5 tần “Năm tấn vì đồng bào Trà Vinh kết nghĩa”. Bởi thế mới có một nhạc sĩ sáng tác bài hát mà trong đó có câu: "Cô Ba dũng sĩ quê ở Trà Vinh, chị Hai năm tấn quê ở Thái Bình…". Bài hát đã trở thành một đề tài đố vui của chiến sĩ ta.

- Tôi đố các cậu ở nước ta phụ nữ vùng nào nặng cân nhất và kỷ lục trọng lượng là bao nhiêu?

Tất cả đều lặng im. Người khởi xướng câu đố khẽ cười:

- Kém quá! Có thế mà không biết. Ở Thái Bình chứ còn ở đâu. Chị Hai chả nặng tới 5 tấn là gì?

Pháo tay nổi lên. Tất cả đều lăn ra cười:

- Hay! Hay… quả là một phát hiện tuyệt vời. Anh bạn tôi kể tiếp - "Ở quê tôi thì có sáng kiến đặt tên cho một con sông đào là Tân Hưng. Bởi Hưng Yên kết nghĩa với Tân An. Không ngờ, dòng sông ấy đã tạo nên bao cảm xúc thi ca. Trong số đó tôi thích nhất một bài thơ tình mùi mẫn lắm. Xin đọc hầu quý vị.

Tôi như bị "thôi miên" trước nội dung bài thơ và phong cách rất nghệ sĩ của người trình bày. Thầm nghĩ "tay này cầm chắc là dân văn nghệ hoặc thầy giáo dạy văn đi lính chứ không phải bình thường đâu". Tan cuộc họp, tôi kéo anh bạn ngồi lại, đề nghị chép cho bài thơ ấy.

Thế là từ đó, bài thơ được xếp vào "gia tài người lính" của tôi, theo tôi suốt dặm dài chinh chiến từ miền Đông tới miền Trung Nam Bộ. Tiếc rằng, trong một trận chống càn, chiếc bòng cá nhân của tôi bị bom rinh mất, trong đó có bài thơ trên và một số bản thảo truyện ngắn của tôi.

Thời gian đã bào mòn trí nhớ con người. Bài thơ dài, nhưng tôi chỉ nhớ được 8 câu gồm 2 khổ đầu và cuối. Ngay đến tên tác giả cũng không còn nhớ. Nhưng tôi tin chắc rằng đó là của một thi sĩ tài hoa. Biết đâu bài viết này sẽ trở thành cầu nối giữa tôi với tác giả. Tôi xin ghi lại mấy câu thơ trên để bạn đọc cùng thưởng thức. Bài thơ có tiêu đề "Có con sông trôi giữa đất Hưng Yên":

Khổ I:

Có con sông trôi giữa đất Hưng Yên
Mỗi giọt nước mang bóng hình Nam - Bắc
Có con sông sóng đêm ngày dào dạt
Trong gió bay thoảng tiếng hát hai miền.

Khổ cuối:

Ôi Tân Hưng tên con sông kết nghĩa
Giải lụa xanh nối mảnh đất hai miền
Giải lụa hồng se mối tình đôi lứa
Một dòng sông ta ghép chung tên.

Mới đó, đã ba mươi mấy năm trôi qua. Thời gian có thể bào mòn, làm mờ đi bao kỷ niệm. Song, những kỷ niệm thuộc về nghĩa tình thì không bao giờ phai nhạt. Cám ơn nhà báo Mai Sông Bé, người góp phần đánh thức trong tôi bao tình cảm cũ, bao kỷ niệm xưa về những tháng năm hào hùng của toàn dân tộc

.
.
.