"Ông hoàng cộng sản"
Họ tên gốc của ông là Tôn Thất Vỹ, sau này (1954) là Nguyễn Minh Vỹ. Báo Nhân dân số ra ngày 2/10/2002, trang đầu có lược ghi các công việc ông gánh vác trong cuộc đời làm cách mạng: Đại biểu Quốc hội các khóa I, II, III; Nguyên Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến - hành chính tỉnh Khánh Hòa; Nguyên Bí thư Đảng đoàn, Ủy viên Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Trung bộ; Nguyên liên khu ủy viên dự khuyết, Chánh Văn phòng Liên khu ủy; Nguyên Chánh Văn phòng, Vụ trưởng Vụ quan hệ Bắc Nam, Ban Thống nhất Trung ương; Nguyên chủ nhiệm Báo Thống nhất; Nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thông tin; Nguyên Phó trưởng đoàn đại biểu chính phủ Việt Nam tại Hội nghị Paris; Nguyên Phó trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương… Người có họ Tôn Thất mà được Cách mạng tin giao nhiều công việc hệ trọng như vậy thật không dễ.
Biệt danh "Ông hoàng cộng sản" là do bạn bè quốc tế, bà con Việt kiều yêu nước gọi đùa ông (có lẽ vì nghe qua, ông có họ Tôn Thất) trong thời gian hơn 5 năm ông tham gia "chiến trường ngoại giao" - Hội nghị Paris.
Ông tham gia cách mạng từ thời kỳ Xô Viết - Nghệ Tĩnh, bị địch bắt và kết án tù 7 năm khổ sai khi tròn 17 tuổi (7/1931). Tòa án Nam triều tỉnh Bình Định đã tước "Tôn tịch" (dòng dõi hoàng tộc), buộc ông lấy họ mẹ (họ Trương). Ông lúc đó đã ứng khẩu thơ rằng:
Nghe án tuyên xong bỗng nực cười
Tội gì mà xử bảy năm trời
Công lao cách mạng chưa tròn vẹn
Thân thế hoàng gia đã tả tơi
Đập đá lâu năm lòng vẫn vững
Ở tù lắm bạn dạ càng vui
Cải tùng mẫu tánh thì cho cải
Tôn Thất hay Trương cũng một người.
Đời ông, mang họ Tôn Thất, cũng gặp nhiều uẩn khúc gian nan, "lên bờ xuống ruộng", để rồi kết lại, ông có trọn 43 năm 11 tháng hoạt động cách mạng (công tác) liên tục, được nghỉ hưu từ 1/1/1980.
Mỗi khi vui, buồn ông thường ngâm nga:
Những tưởng chỉ mong con cháu hưởng
Mà nay hưởng được chính đời ta.
Năm ông và bà vào tuổi song thất (77), ông "nhắn vợ":
Chung thủy yêu nhau suốt một đời
Tình ta nào phải chỉ tiền thôi
Xưa đà hôm sớm chia cay đắng
Nay ắt ngày đêm sẻ ngọt bùi
Giấy bạc đồng tiền đành giữ chặt
Tình chồng nghĩa vợ há buông lơi
Đôi ta đều loại xưa nay hiếm
Hãy sống sao cho xứng với người.
Ông hay làm thơ lắm, có nhiều thơ lắm, nhưng chắc chưa có ai gọi ông là "nhà thơ". Thơ giúp ông giãi bày tâm sự, và chắc chỉ có vậy, chẳng để trưng ra với ai, nhất là vào chặng cuối cuộc đời. Ấy vậy nhưng ông cũng rất "tự hào" là người chèo lái cùng dòng thơ trẻ ở Bình Định trước Cách mạng Tháng Tám, được nhà thơ Chế Lan Viên quý trọng gọi ông là người "đã đưa tôi vào con đường văn học". Ông cũng đã từng bình thơ Hàn Mặc Tử với lối bình sâu sắc, tinh tế.
Ông là nhà chính trị? Chưa hẳn vậy. Ông chỉ hoạt động chính trị ở chừng mực mà thôi. Nhưng chắc chắn ông là một trong những nhân chứng lịch sử trong nhiều sự kiện trọng đại của cách mạng Việt Nam thế kỷ XX. Ông đã để lại cho đời một khối lượng không nhỏ tư liệu, tài liệu lịch sử, bài báo, bài viết, bài nói phản ánh chân thực sự thật lịch sử đã diễn ra, những lúc gian nan hiểm nghèo, những khi thắng lợi huy hoàng. Ông lại có khiếu nhớ lâu, ghi chép nhiều, quan hệ rộng, hoạt khẩu, quen lưu trữ hồ sơ, tư liệu, giấy tờ, lại có vốn tiếng Pháp thông thạo.
Báo Nhân dân trong bài viết về cuộc họp mặt nhân chứng lịch sử nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946 - 19/12/1996) có đoạn viết: "Tôi vừa được bệnh viện cho xuất viện. Bác sĩ cấm tôi nhiều điều: cấm vui, cấm buồn, cấm xúc động. Nhưng hôm nay tôi tự cho mình vi phạm tất cả". Thế là đồng chí Vỹ kể lại những năm tháng chiến đấu ác liệt của đồng bào, đồng chí Khánh Hòa, từ giành chính quyền về tay nhân dân ngày 19-8-1945 đến cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 101 ngày đêm ở thành phố Nha Trang".
Nguyễn Minh Vỹ có thẻ nhà báo không? Chưa chắc ông có. Chỉ biết ông đã góp nhiều công sức từ đầu đến cuối cho Báo Thống nhất, nhiều năm ông là chủ nhiệm. Tờ báo ra số đầu tiên vào chủ nhật ngày 2/6/1957, ra số cuối vào ngày 19/5/1975. Qua 18 năm hoạt động với gần 1000 số báo, Báo Thống nhất có tuổi đời ngắn nhưng có ý nghĩa lịch sử lâu dài.
Trong sách "Còn mãi hào quang" (nhiều tác giả, NXB TP HCM, năm 2000), có đoạn viết về ông như sau: "Anh là người lãnh đạo, người quản lý, người nghiên cứu, người tuyên truyền, người làm báo, người tổ chức, người đấu tranh, đứng ở góc độ nào anh cũng nhìn thấy vấn đề, những cái mà lúc đó chúng tôi chưa dễ thấy. Anh biết vận dụng binh pháp của người xưa, chủ động sẵn sàng, nắm bắt thời cơ, mượn gậy ông đập lưng ông, đích cuối cùng là hiệu quả ngòi bút phải sánh bằng được hiệu quả của binh đoàn".
Không chỉ với riêng Báo Thống nhất, Nguyễn Minh Vỹ còn viết rất nhiều bài báo từ trước, trong, sau Cách mạng Tháng Tám cho đến cuối đời, đăng trên nhiều tờ báo ở Trung ương và địa phương. Có nhiều bài đã được chọn đăng trong sách "Con người và quê hương" (do Tôn nữ Bích Thu sưu tầm và tuyển chọn, NXB Văn hóa - Thông tin, ấn hành năm 1998), dịp ông tròn 85 xuân.
"Tuyên truyền viên cách mạng" - theo người viết bài này, danh xưng này xứng với ông nhất. Vâng, đây là nghề mà ông "nghiện nặng". Đích thực đây là nghề ông yêu thích. Ông cho rằng tuyên truyền miệng chính là vũ khí hiệu quả bậc nhất của người cách mạng để giác ngộ, cổ vũ, động viên nhân dân làm cách mạng trong mọi thời kỳ (khi hoạt động bí mật, khi công khai, trong chiến tranh, lúc hòa bình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc). Câu lạc bộ Thống nhất ở cạnh hồ Hoàn Kiếm - Hà Nội một thời là diễn đàn tuyên truyền miệng của ông và các đồng nghiệp. Nơi đây thường xuyên tổ chức các buổi nói chuyện cuối tuần, để ông và các diễn giả báo cáo lại cho bà con miền Nam tập kết cùng bà con miền Bắc tình hình cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước cùng công cuộc xây dựng miền Bắc hậu phương lớn. Với trí nhớ tuyệt vời, năng lực truyền cảm dồi dào, cùng trái tim luôn nặng lòng với miền Nam yêu thương, ông đã để lại cho người nghe những cảm nhận sâu lắng và xúc động sau những lần được ông "tuyên truyền miệng".
Có lẽ tin ở năng lực, năng khiếu và nhiệt huyết của ông mà cấp trên đã giao cho ông vị trí Tổng cục trưởng Tổng cục Thông tin trực thuộc Chính phủ. Từ 1977, Tổng cục Thông tin được sát nhập thành Bộ Văn hóa - Thông tin. Ngay những ngày tháng cuối đời, sau khi nghỉ hưu, ông vẫn "nghiện nặng" nghề thông tin tuyên truyền, vẫn suốt ngày nghe đài, đọc báo, xem tài liệu, xem tivi, ghi ghi chép chép mọi thứ cần biết, nhớ, để không lạc hậu với thời cuộc. Phát hiện vấn đề gì cần góp ý thì ông trực tiếp gọi điện hoặc biên thư góp ý gửi báo, đài, cơ quan. Radio bán dẫn của ông thường xuyên thay pin vì nhanh hết pin, thay máy vì dùng mãi phải hỏng, mặc dù người nhà chỉ chọn mua máy tốt cho ông - "Sony made in Japan" chính hãng. Ông không bỏ bất kỳ buổi mời dự nghe chính trị, thời sự nào của bất cứ cơ quan, tổ chức nào có mời ông.
Ông đúc kết: "Chiến tranh là chiến tranh nhân dân thì thông tin cũng là thông tin nhân dân, phải làm sao "nhà nhà đều nghe, người người đều biết, ngày vui mắt, tối vui tai", "Người đã nghe nói cho người chưa nghe, người đã biết nói cho người chưa biết".
Thật không dễ gì một người hoàng tộc mà được Cách mạng giao trọng trách Phó trưởng đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dự Hội nghị Paris, dự trọn vẹn 5 năm 1 tháng, từ đầu đến cuối. Ông có câu thơ vui:
Ghế mòn nhưng dạ chẳng mòn
Ngồi lâu mấy cũng không sờn lòng ta.
Hội nghị thành công. Trong khi cả nước và bạn bè thế giới vui mừng hân hoan thì ngay sau Tết, ông gặp hạn nặng, đổ bệnh hiểm nghèo, ung thư ác tính. Bấy giờ ông mới 60 tuổi. Phía Pháp hình như khó chữa trị được, nên chuyển ông sang Moscow. Trước ngày mổ khối u ác tính, lúc tỉnh táo, ông lại làm thơ:
Hôm nay vỗ béo đã xong rồi
"Thợ mổ" sờ thêm tí nữa thôi
Nhắm trước đường dao và mũi chỉ
Để khi xẻ thịt chắc tay ngài.
Ngày ông được mổ khối u ác tính, thoát khỏi lưỡi hái tử thần (29/3/1973) cũng là ngày Mỹ bắt đầu rút quân khỏi miền Nam.
Sau 3 tháng chữa trị ở Liên Xô, ngày 11/6/1973 ông về nước, mang theo vết sẹo dài ở bụng.
Ngày 27/12/1998, tình cờ Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình và ông Vỹ gặp nhau tại nhà ông Lý Văn Sáu (nhân dự giỗ 100 ngày bà Ngọc Ánh - vợ ông Sáu). Ông Vỹ có bút tích ghi lại lời bà Bình tại cuộc gặp: "Lúc ông ốm nặng tưởng là sắp chết ở Moscow năm ấy (1973), tôi tưởng là ông sẽ mất thật nên đã đến thăm ông tặng một hoa Oeillet - nhớ là hoa Oeillet - và hôn ông 1 chiếc. Thế mà ông sống đến nay, lại đẹp lão ra".
Ngày 19/5/2002, cả nước bầu Quốc hội. Được bà con khu dân cư mời ông là cử tri đầu tiên bỏ phiếu, ông nghiêm túc thực hiện chu đáo. Có lẽ đêm trước hồi hộp không yên giấc, thức khuya, dậy sớm, xúc động, ngay sau khi đi bầu về, vào nhà, ông đột quỵ, được cấp cứu tại bệnh viện Hữu nghị, nằm viện đến lúc ra đi do tái phát ung thư cũ di căn giai đoạn cuối. Trước ngày ông qua đời, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình đã đến thăm ông. Biết ông khó qua khỏi, bà đã tặng ông một nụ hôn lần thứ hai, với niềm hy vọng xa xôi…
Ông ra đi, chưa thực hiện được điều ước đã ghi:
"Sống đến nay đủ, được rồi
Đến lúc nào đi xa cũng được
Chỉ đến 2004 sẽ viết lời từ giã".
Sau khi qua đời, ông được Nhà nước truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh.
Mãi nhớ ông nhiều, "Ông hoàng cộng sản" Tôn Thất Vỹ.
Hà Nội, ngày 19/4/2014
