Những câu thơ từ "Góc trống" hiện về

Thứ Hai, 20/11/2006, 11:00
Thoắt đã 19 năm từ cái đêm thức trắng ấy! Những câu thơ từ "góc trống" hiện về vẫn luôn là kỷ niệm xúc động nhất trong đời làm báo của nhà thơ Nguyễn Xuân Hải. Kỷ niệm 60 năm ngày Báo CAND ra số báo đầu tiên, nhà thơ đã chép lại bài thơ viết từ thuở ấy để nhớ lại một thời làm báo.

1. Tôi nhớ lại những ngày giữa mùa đông năm 1987, năm mà đất nước bắt đầu bước sang thời kỳ đổi mới, nền kinh tế quốc dân chưa thoát khỏi tình trạng khủng hoảng toàn diện và trầm trọng, đời sống nhân dân phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, thiếu thốn, tình hình trật tự trị an chưa ổn định như bây giờ. Những ổ nhóm trộm cướp liên tục xuất hiện, những vụ trọng án liên tiếp xảy ra. Ngày ấy tôi mới ngoài ba mươi tuổi, đang còn dồi dào sức khỏe, sức đi và cả sức viết. Ngày ấy, Báo Công an nhân dân còn phát hành nội bộ, mỗi tuần mỗi kỳ, anh em phóng viên tha hồ tung tẩy bốn phương để lấy tài liệu viết bài và thời gian nộp bài không quy định ngặt nghèo theo guồng quay một tuần 6 số như bây giờ..

Trở lại câu chuyện của những ngày giữa mùa đông 1987... Tôi vừa đi công tác Hải Phòng về đến Hà Nội, anh Nguyễn Ngọc (lúc ấy là Trưởng phòng Biên tập Xây dựng lực lượng - 1 trong 3 phòng nội dung của Báo CAND) gọi tôi đến và giao nhiệm vụ: "Cậu lên Lạng Sơn ngay. Trên ấy, lực lượng Công an vừa triệt phá một băng cướp nguy hiểm."

Viết "Chuyện vụ án" vốn là sự ham thích của tôi. Trước khi về Báo Công an nhân dân, tôi đã có một số "Chuyện vụ án" đăng ở Báo Công an vũ trang (nay là Báo Biên phòng). Trong lá đơn xin về Báo, tôi cũng kèm theo một số bài viết, trong đó quá nửa là "Chuyện vụ án" đăng kín cả trang báo, trình với Tổng biên tập Trần Liêu.

Tuy nhiên, giữ các chuyên mục "Chuyện vụ án" ngày ấy lại là các nhà báo đã có tên tuổi như anh Phạm Hữu Chí, bút danh Hoài Nam, anh Trần Kính, bút danh TK và các nhà báo trẻ được học nghiệp vụ Công an rất bài bản từ Trường Đại học An ninh nhân dân, như anh Phạm Miên, bút danh Trường Minh, chị Trần Nguyệt Tuệ, bút danh Thùy Linh và anh Phúc Bồng...

2. Mười giờ, tôi rời bến Long Biên trên chiếc xe khách chật như nêm, đặt chân xuống thị xã Lạng Sơn, nhìn xung quanh, trời đã nhá nhem tối. Sau bữa cơm vội vàng ở nhà ăn Công an tỉnh, thể theo yêu cầu của tôi, đồng chí trợ lý tuyên truyền Phòng Công tác chính trị dẫn đến luôn Phòng Cảnh sát hình sự để lấy tài liệu. Các đồng chí lãnh đạo phòng đều đi vắng. Trực ban của phòng báo cáo rằng chỉ huy đang cùng các mũi trinh sát tỏa đi các ngả bắt nốt những tên cướp còn lại. Cả phòng chỉ còn hai chiến sỹ ứng trực.

Tác giả (thứ 2 từ trái sang) đến với đồng bào thị xã Tuyên Quang khi vừa xảy ra lũ quét năm 1997.

Đêm ấy, tôi được nghỉ luôn tại căn phòng tập thể của các chiến sỹ cảnh sát hình sự xứ Lạng. Đó là căn phòng nhỏ kê 12 cái giường san sát nhau. Chiếc giường góc trong cùng có đặt một bát hương đang khói nghi ngút. Phía trên là tấm ảnh một thiếu úy trẻ. Tấm ảnh bóc từ bằng đại học mới được phóng lại làm ảnh thờ. Tôi hỏi Hoàng Quang Vọ, trinh sát của Phòng về người chiến sỹ ấy và câu chuyện về trận đánh cướp ở đèo Sài Hồ hôm trước…

3. Chuyện về trận đánh cướp tôi đã viết phóng sự in trên Báo CAND số ra đầu tháng 11/1987. Năm 2004, trong tập sách "Dấu ấn một thời", do NXB CAND ấn hành, tôi đã chọn để in lại bài phóng sự ấy với nhan đề "Nhiệm vụ cuối cùng". Trong khuôn khổ của bài báo này, tôi xin chỉ tóm tắt lại đôi dòng.

... Vào một đêm đông giá lạnh, chiếc xe khách chạy từ thị trấn Đồng Bành về Lạng Sơn đến đèo Sài Hồ thì "đụng" cướp. Hành khách không ngờ được rằng 5 tên cướp đã lên từ bến gốc, trà trộn đứng ngồi cùng hành khách trên xe. Lợi dụng lúc xe đang bò lên dốc, đoạn đường chênh vênh bên vực sâu, bọn cướp đã dùng súng, lựu đạn đe dọa, rồi lần lượt đến từng hàng ghế, lục lọi túi xách, quần áo, chiếm đoạt tiền, tài sản quý của tất cả hành khách trên xe. Nhưng bọn cướp không ngờ được rằng trên xe cũng có một tổ trinh sát hình sự của Công an Lạng Sơn đang "đợi" chúng.

Tổ trinh sát gồm 4 đồng chí: Thiếu úy Nguyễn Thành Tấn, Chuẩn úy Trương Thế Cửu, Thượng sỹ Triệu Văn Phong và Trung sỹ Dương Công Quảng. Thời kỳ ấy trên các tuyến xe khách chạy qua địa phận Lạng Sơn bắt đầu rộ lên nạn cướp bóc. Lãnh đạo Công an tỉnh giao nhiệm vụ cho Phòng Cảnh sát Hình sự phối hợp với Phòng Cảnh sát Bảo vệ tổ chức các mũi trinh sát hóa trang mật phục để bắt quả tang bọn tội phạm trừ họa cho dân.

Sau nhiều đêm thức trắng bám theo hàng chục chuyến xe trên hầu khắp các tuyến đường lên xứ Lạng, hôm ấy mũi trinh sát của Thiếu úy Nguyễn Thành Tấn mới "gặp" bọn cướp. Đáp lại lời kêu gọi đầu hàng của các chiến sỹ cảnh sát, bọn cướp đã dùng vũ khí điên cuồng chống lại. Để bảo toàn tính mạng cho hơn 60 hành khách trên xe, các chiến sỹ công an đã chiến đấu hết sức dũng cảm, chặn đứng được bàn tay tội ác của toán cướp do tên Phùng Văn Nam cầm đầu. Một số tên cướp toan dùng lựu đạn hủy diệt cả chiếc xe đã bị đền tội tại chỗ. Số còn lại bị bắt…

Nhưng trong cuộc chiến đấu ấy, hai chiến sỹ trẻ là Triệu Văn Phong và Nguyễn Thành Tấn đã anh dũng hy sinh.

Hoàng Quang Vọ không chỉ kể lại trận đánh cướp mà còn cho tôi biết nhiều kỷ niệm cảm động về Nguyễn Thành Tấn, người sỹ quan trẻ vừa tốt nghiệp Đại học Cảnh sát nhân dân đã ngã xuống đêm trước tại đèo Sài Hồ. Suốt đêm ấy tôi đã thức trắng. Bài phóng sự thì còn phải lấy thêm tư liệu. Nhưng chiếc giường và tấm ảnh người chiến sỹ trẻ đang nghi ngút khói hương nơi góc trống kia khiến tôi rung động tận đáy lòng. Và cứ thế, những câu thơ lần lượt hiện về. Sáng hôm sau, bài thơ "Góc trống" của tôi đã hoàn chỉnh. Ngày ấy tôi chưa có danh hiệu nhà thơ như bây giờ và tôi cũng không thể nghiền ngẫm, trau chuốt để có những câu thơ thật hay. Nhưng đó là tấm lòng chân tình của tôi với người chiến sĩ dũng cảm.

Năm 1989, Nguyễn Thành Tấn và Triệu Văn Phong được Đảng và Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Cũng năm ấy, tôi vào công tác Bến Tre. Khi đến Phòng Công tác chính trị xuất trình giấy tờ và giới thiệu tên mình, một nữ đồng chí trong đơn vị liền đến bên và hỏi: "Anh có phải là tác giả bài thơ "Góc trống". Và sau đó, chị lấy từ trong sổ ghi chép của mình bài thơ của tôi được cắt từ báo và giải thích: "Đọc bài thơ của anh khiến bọn em rất cảm động. Bọn em đã giữ gìn bài thơ để làm kỷ niệm...".--PageBreak--

4. Thoắt đã 19 năm từ cái đêm thức trắng ấy! Những câu thơ từ "góc trống" hiện về vẫn luôn là kỷ niệm xúc động nhất trong đời làm báo của tôi. Nhân kỷ niệm 60 năm ngày Báo CAND ra số báo đầu tiên, tôi xin chép lại bài thơ viết từ thuở ấy với bạn đọc, để tưởng nhớ hai anh, nhớ lại một thời làm báo đã qua.

Góc trống

Tưởng nhớ Liệt sĩ - Anh hùng Nguyễn Thành Tấn

Không còn lay gọi nhau những phiên đi tuần

Không còn sát vai nhau những canh thâu

mật phục

Không còn chia cho nhau điếu thuốc rê xứ Lạng

Thoắt đã thành kỷ niệm xa xôi!

 

Chiếc giường một long thang tấm chăn bạc

phếch rồi

Chiếc hòm gỗ - cả gia tài chiến sỹ

Góc ấm ấy - nay đã thành góc trống

Ước chỉ là lần Tấn về phép, Tấn ơi!

 

Mỗi hoàng hôn tưởng nhớ một bóng người

Nhìn tấm ảnh bóc từ bằng đại học

Thắp nén hương, cố dằn lòng tiếng khóc

Bát cơm chiều bếp tập thể đặt lên...

 

Ôi có một tháng mười không thể nào quên

Cùng đồng đội, đằng đẵng năm đêm trắng

Đêm Hà Nội mưa giăng, đêm Đồng Bành giá lạnh

Chuyến đi nào Tấn cũng xung phong

 

Đêm Sài Hồ trong tiếng thét xé lòng

Tấn đánh cướp, cứu dân rồi ngã bên đồng đội

Giữa màu trắng tinh khôi - một quãng đời quá vội

Tấn có kịp nhận ra cái giá của thanh bình

 

Tấn đã vì nghĩa lớn hy sinh

Ngàn người sống vì Tấn mà hiến máu

Triệu tấm lòng cả nước cùng đau đáu

Ngóng tin vui từ xứ Lạng đưa về

 

Không nhận được tin vui!

Buổi chiều ấy não nề

Bé Thuật sà xuống bên, thèm đôi tay người bố

Đôi tay Tấn buông xuôi để con thơ nức nở

Trong gần gũi tấc gang mà xa cách đời đời

 

Lần tiễn nhau cuối cùng

Tiễn Tấn đến bên Phong

Hai nấm mộ bên đồi

Miền biên ải như động rừng, động núi

Động triệu lòng người, xót thương, tiếc nuối

Cái chết hóa thành bất tử Tấn ơi!

 

Góc ấm bao năm thành góc trống thật rồi

Từ đêm nay và còn bao đêm khác

Vì cuộc sống bình yên dải đất này - Xứ Lạng

Bọn mình lên đường, Tấn có cùng đi.

 

Lạng Sơn, đêm 1/11/1987

Nguyễn Xuân Hải
.
.
.