Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý: “Dư âm” vang vọng mãi

Thứ Ba, 18/10/2005, 09:58

Thái Bình là tỉnh đầu tiên trong thời chiến đạt năng suất lúa 5 tấn/1 ha. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đã đáp ứng thẳng vào yêu cầu phản ánh thành tích này của Tỉnh ủy Thái Bình khi ấy với “Bài ca năm tấn”.

Những ngày cách đây đã lâu lắm, khi còn là một cậu bé sống ở một làng quê hẻo lánh ở Phú Thọ, cứ đêm đêm, nhất là những hôm sáng trăng, tôi nghe văng vẳng ở một xóm xa vọng lên tiếng sáo trúc vọng đến bên tai tôi.

Mãi sau này khi đã bước vào hoạt động âm nhạc, tôi mới biết đó là bài “Mùa hoa nở” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý: “Dân Liên Xô vui hát vui hát trên đồng hoa. Đây bao la ánh sáng vui chan hòa”… Ông viết bài này ngay từ những năm chưa kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp.

Lại đến khi lớn vồng lên, giọng vỡ ồm ồm, trái tim bắt đầu biết rung trước một người con gái xinh đẹp, tự nhiên tôi nhập tâm và luôn say sưa hát bài “Dư âm” của ông: “Đêm qua mơ dáng em đang ôm đàn dìu muôn tiếng tơ…”. Tôi mê mẩn bài này đến mức suốt thời trai trẻ, cứ cầm đàn là tôi gần như chỉ hát “Dư âm”.

Vậy là Nguyễn Văn Tý đã gắn với những kỷ niệm tuổi thơ, tuổi trẻ của tôi như thế. Sau này, khi bắt đầu cầm bút sáng tác âm nhạc, ông là một trong những người thầy của tôi - với đúng nghĩa của từ này.

Ông viết bài hát cứ như chơi, cứ như chẳng tốn nhiều công sức bởi mạch âm nhạc (truyền điệu) tuôn ra rất tự nhiên, thoải mái rồi ngấm vào lòng người nghe cũng tự nhiên, thoải mái như vậy. Nhưng quả thực, nếu chứng kiến quá trình hình thành một bài của ông, sẽ thấy ông vô cùng cầu kỳ, công phu. Ông tỉa tót từng nốt hoa mĩ (petite notte), cân nhắc từng nốt móc đơn hay có chấm dật. Sửa đi sửa lại hàng chục lần một nốt, một chữ.

Giai điệu của ông như có phép thần: đã ngấm vào ta thì làm ta mê mẩn mãi, chẳng khác gì bùa phép của ái tình. Hầu như bài hát nào của ông cũng được khai thác từ một chất liệu âm nhạc dân gian nào đó, khi nhiều, khi ít, khi gần, khi xa. Hoặc nếu không xuất phát từ một làn điệu cụ thể nào thì cũng phảng phất, có hơi hướng dân ca rõ rệt.

Xin miễn nói đến những bài quá hay, quá nổi tiếng ai ai cũng biết, rất nhiều người thuộc lòng như: “Mẹ ru con, “Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh”, “Tiếng hát người đi xây hồ Kẻ Gỗ”, “Dáng đứng Bến Tre” v.v… Chỉ xin nói đến những bài mà cùng chủ đề, vào tay người khác khó có thể tạo nên bài hát đáng yêu, hấp dẫn như thế.

Trong một đợt tổ chức cho một số nhạc sĩ đi tìm hiểu thực tế sáng tác về ngành ngân hàng, khi mà nhiều người không cho ra được tác phẩm hoặc viết được nhạc nhưng lại có lời ca: “Tiền bạc là tình là nghĩa” (?) để rồi chẳng ai để ý thì Nguyễn Văn Tý viết được bài “Em đi làm tín dụng”. Bằng một chất liệu dân ca miền núi phía Bắc quen thuộc, ông tạo nên bài hát hết sức duyên dáng, với giai điệu đầy quyến rũ. Đến hôm nay, ngành Ngân hàng vẫn coi như bài “Ngành ca” chính thức, chưa có bài thứ hai vượt qua.

Viết về nông nghiệp không dễ, nhất lại gắn với miền đất cụ thể là Thái Bình và với thành tích cụ thể: tỉnh đầu tiên trong thời chiến đạt năng suất lúa 5 tấn/1 ha. Ông đáp ứng thẳng vào yêu cầu này của Tỉnh ủy Thái Bình khi ấy với “Bài ca năm tấn”. Vừa ra đời, bài hát đã nhanh chóng lan truyền khắp tỉnh Thái Bình và cả nước. Đảng bộ và nhân dân Thái Bình mãi mãi tự hào về thành tích của mình và trân trọng yêu quý Nguyễn Văn Tý, coi ông là công dân danh dự của tỉnh này.

Sau năm 1975, Nguyễn Văn Tý chuyển vào làm việc ở Viện nghiên cứu âm nhạc, cơ sở hai đặt trụ sở ở Sài Gòn. Từ đó đến nay, tôi không có dịp gặp lại ông. Mãi đến vừa qua, khi có nhà xuất bản mời làm các tuyển tập ca khúc về từng chủ đề, tôi mới gắng tìm để liên hệ bằng được với ông. Rất mừng là sau đó ông đã nhanh chóng hồi âm bằng thư gửi qua đường bưu điện. Ông thông báo tin buồn: người vợ yêu dấu - em nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương - từng đi trọn cả cuộc đời với ông đã vừa theo người anh trai về cõi vĩnh hằng.--PageBreak--

Ông kể rằng bây giờ cuộc sống khó khăn. Còn bà, mọi việc chi tiêu trong gia đình được tính toán, thu vén ổn thỏa, đàng hoàng. Nay chỉ còn mình ông, không biết sẽ xoay xỏa ra sao khi tiền lương hưu chỉ đủ trang trải các khoản tiền điện, nước, điện thoại và những phát sinh linh tinh bất thường khác.

Tôi hỏi ông qua điện thoại: “Thế các khoản thu từ những bài hát của anh vẫn thường xuyên xuất hiện trên các làn sóng phát thanh, truyền hình, các sân khấu biểu diễn, các băng đĩa, tuyển tập bài hát thì sao?”. Ông thở dài: “Chẳng hiểu luật bản quyền thế nào, nghe nói có công ước gì đó về bản quyền, nhưng tớ có nhận được mấy đâu. In ấn thì vài chục nghìn một bài. Tuyển tập do Hội Nhạc sĩ in thì người ta nói không có chế độ gì vì sách chỉ biếu, không bán được đồng nào…”.

Với Nguyễn Văn Tý ai hiểu rõ sẽ rất quý trọng ông. Ông mà yêu điều gì thì làm cho người khác phải yêu theo, ngược lại, nếu ghét thì như bát nước đổ đi, không thương tiếc. Động vào điều khiến ông vui sướng thì nụ cười rạng rỡ, mắt cười tít lại như con quay của trẻ con chơi đang tít. Còn chạm vào nỗi đau nào đó khiến ông tự ái thì hãy coi chừng.

Ông ít khi nói to điều gì, ngay cả khi phẫn nộ cũng ít lớn tiếng. Nói nhỏ, thậm chí rất bình thản nhưng từ ngữ ông dùng thì chì chiết, tận cùng thông tin. Là văn nghệ sĩ, ai cũng rất yêu mình cả thôi (không yêu mình sao có thể yêu con người để theo nghiệp cầm bút?). Điều này cũng rất rõ ở Nguyễn Văn Tý. Nói chuyện về tác phẩm của ông thì có khi ông giành cả buổi, lại tự thể hiện bài hát của mình thì hiếm có nhạc sĩ nào bằng. Ông lại say sưa nói về quá trình thai nghén, hình thành tác phẩm. Nhưng giả sử giữa lúc đó mà nhắc đến bài của người khác thì ông mất hứng hẳn.

Gần như cả đời Nguyễn Xuân Tý không làm một chức vụ gì đáng kể ngoài việc trưởng một vài đoàn văn nghệ nhỏ từ hồi kháng chiến chống Pháp. Chẳng biết điều đó có khiến ông trỗi dậy những mặc cảm vu vơ? Riêng tôi lại cho rằng ông cần phải cảm ơn những nhà tổ chức đã không nghĩ tới việc mời ông vào những “chiếc ghế”, bởi nếu họ không làm vậy biết đâu lại chẳng có được một Nguyễn Văn Tý như bàn dân thiên hạ đã biết và ngưỡng mộ?

Nguyễn Đình San
.
.
.