Nhà văn Imre Kertesz - Biến rủi thành may

Chủ Nhật, 20/09/2009, 09:30
Chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939-1945) là cuộc chiến tranh tàn khốc nhất, đẫm máu nhất trong lịch sử nhân loại. Biết bao số phận con người đã bị hủy diệt, tàn phế, hãi hùng bởi cuộc chiến tranh này...

Những hồi ức khủng khiếp về những cuộc tàn sát người Do Thái, những trại tập trung khổng lồ, những lò thiêu người sống, những đôi găng tay dùng cho các quý bà, quý cô được làm từ... da người, những bánh xà phòng thơm nấu từ... mỡ người... đã và sẽ còn ám ảnh lương tri con người ở khắp mọi nơi trên trái đất. Sách viết về những hồi ức đó, có lẽ đã chất thành núi, song chỉ một vài cuốn được trao giải Nobel Văn học: "Khủng hoảng toàn cầu" (The word crisis) của Winston Churchill, "Không số phận" (Fatelessness) của Imre Kertesz...

Tiểu thuyết "Không số phận" là những hồi ức của Imre Kertesz -  một người Hungari gốc Do Thái về những ngày chờ chết trong trại tập trung của phát xít Đức. Mặc dầu quãng thời gian sống trong "địa ngục trần gian" chỉ diễn ra trong hơn một năm, nhưng từng giây, từng phút, từng giờ khủng khiếp đó luôn là những cơn ác mộng, là nỗi ám ảnh đối với cuộc đời của Imre Kertesz. Trong khoảng hơn ba chục năm theo đuổi nghiệp văn chương, Imre Kertesz hầu như chỉ viết về những hồi ức đau thương, về ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết, về cách thức để con người sống sót khi trở thành nạn nhân của những thế lực xã hội dã man, tàn bạo, về "sự tự do đã biến mất trên trái đất này"...

Như một bi kịch của lịch sử, từ khi Adolf Hitler lên nắm quyền, người Do Thái đã trở thành đối tượng truy sát của phát xít Đức. Theo lệnh của Hitler, cùng với sự ra đời của Đạo luật Nuremberg chống người Do Thái, hàng loạt trại tập trung khổng lồ, vô nhân tính được xây dựng trên lãnh thổ Đức và  lãnh thổ các nước bị Đức chiếm đóng.

Mang số phận bi thương của người Do Thái, năm 1944, khi mới 15 tuổi, cậu bé Imre Kertesz bị quân phát xít lùa vào trại tập trung Auschwitz trên đất Ba Lan, sau đó chuyển đến trại Buchenwald trên đất Đức. Trái tim non nớt của cậu bé đã không ít lần hoảng loạn khi phải chứng kiến những đoàn tù binh gầy gò, rách rưới, đói khát xếp hàng để lên "lúp" - một kiểu lò thiêu sống người  bằng điện. Rồi cảnh từng đoàn tù binh bị nhét lên những toa tàu hỏa chật cứng để thí nghiệm cho một loại chất độc hóa học giết người hàng loạt. Lại có cả một mụ vợ của một tên sĩ quan Đức quốc xã ngày ngày sục vào trại để săn lùng những hình xăm lạ trên thân thể tù binh. Mỗi hình xăm trong bộ sưu tập quái đản của mụ ta là một mạng người tù binh khốn khổ...

Như tất cả những tù binh khác, từng ngày một, Imre Kertesz ngộp thở vì lo sợ đến lượt mình phải chết. Nhưng nhờ một sự nhầm lẫn trong quá trình ghi chép sổ sách, Imre Kertesz đã may mắn sống sót. Trong giấy tờ của trại Buchenwald ghi rõ: "Tù nhân mang số 64921 Imre Kertesz chết ngày 18/2/1944". Vì đã "chết" nên Imre Kertesz không có tên trong danh sách những tù nhân phải lên "lúp" hay lên "tàu hỏa".

Thoát khỏi lưỡi hái tử thần sau khi chiến tranh kết thúc, Imre Kertesz trở thành kẻ côi cút, bơ vơ vì cả gia đình đã chết. Đến tuổi trưởng thành, Imre Kertesz làm báo một thời gian ngắn, rồi gia nhập quân đội. Nhưng làm gì, ở đâu, những hồi ức về trại tập trung trong chiến tranh vẫn luôn đeo bám và thúc giục ông cầm bút viết. Ông viết vì sợ những hồi ức đó dần chìm vào quên lãng. Viết để nhắc nhở cho thế hệ hôm nay và mai sau không bao giờ được quên tội ác diệt chủng của chủ nghĩa phát xít, một dạng "quái thai của lịch sử". Viết để cho loài người phải luôn tạc dạ, ghi lòng: "Số phận của con người nằm trong tay bản thân họ. Nếu có tự do, sẽ không tồn tại cái gọi là số mệnh"...

Thời gian trôi qua, mọi nỗi kinh hoàng trong chiến tranh tưởng là đã nhạt dần theo năm tháng, nhưng không! Đó lại là lúc Imre Kertesz nhận ra rằng, "chính sự sống sót của mình qua cửa ải Thần Chết mà Đức quốc xã giăng ra là một món quà kỳ diệu của Thượng đế". Ông quyết định dùng "món quà" đó vào việc viết "Không số phận".

Ròng rã hơn chục năm trời, vừa viết vừa dịch sách để kiếm sống, cuối cùng ông cũng hoàn thành cuốn tiểu thuyết đầu tay có tính tự truyện. Toàn bộ tác phẩm với những người thực, việc thực xảy ra ở trại tập trung Auschwitz và Buchenwald là những bằng chứng xác thực về tội ác của chủ nghĩa phát xít nhằm chứng minh cho một nguyên lý "Sống là thích ứng". "Không số phận" là một trong ba cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của Imre Kertesz, cùng một mô típ về chiến tranh, đã được Viện Hàn lâm Thụy Điển đánh giá "là những tác phẩm giàu tính nhân bản, đưa ra câu trả lời cho câu hỏi "làm sao cá nhân có thể tiếp tục sống và tư duy trong thời đại mà xã hội ngày càng bắt các cá thể phụ thuộc vào mình", đồng thời khám phá ra khả năng sống sót và thích ứng trong một thời đại mà sự đầu hàng của con người trước thế lực xã hội tàn bạo đã trở nên ngày càng trọn vẹn".

Văn của Imre Kertesz rất kén người đọc, lại đụng chạm đến những vấn đề nhạy cảm, chuyển tải những ký ức nặng nề, u ám, nên phải mất mười năm sau khi hoàn thành, nhờ sự giúp đỡ của một dịch giả danh tiếng, "Không số phận" mới được xuất bản. Nhưng ngay cả khi đã xuất bản rồi, cuốn tiểu thuyết hoàn toàn rơi vào yên lặng, không được công chúng lựa chọn. Nhưng Imre Kertesz không tỏ ra buồn, cũng không sốt ruột. Ông bắt tay vào viết tiếp "Thất bại" và "Kinh cầu cho đứa bé chưa chào đời", cũng vẫn theo kỹ thuật dòng ký ức.

Cho đến đầu những năm 80 của thế kỷ trước, Imre Kertesz vẫn chưa xác lập được vị trí của mình trong làng văn Hungari. Tên ông cũng không được nhắc đến trong cuốn "Lịch sử văn học Hungari", biên soạn năm 1983. Vì thế ông không được hưởng bất cứ đặc ân nào của một nhà văn chân chính. Tuy cuộc sống ngày càng khó khăn, nhưng không giống với một số người đã rời bỏ đất nước đi tìm cuộc sống tươi đẹp ở các nước phương Tây, Imre Kertesz đã ở lại trên chính quê hương mình và kiếm sống bằng nghề dịch sách. Ông cùng vợ sống trong một căn hộ nhỏ, không có máy chữ, phải dùng bút chì và bút bi để viết. Ông viết bất cứ cái gì ông thích, không màng đến chuyện in ấn, xuất bản hay nhuận bút. Hàng ngày ông đến bể bơi công cộng để đàm đạo văn chương cùng bạn hữu.

Nhưng rồi những biến động dữ dội của lịch sử thế giới, toàn cầu hóa đã mang đến cho Imre Kertesz và những đứa con  tinh thần của ông cơ may mới. "Không số phận" đã vượt khỏi biên giới Hungari đến với các nước châu Âu, được dịch ra tiếng Anh, Pháp, Thụy Điển, Đức. Imre Kertesz cùng với "Không số phận", "Thất bại" và "Kinh cầu cho đứa bé chưa chào đời", được giới thiệu đến độc giả thế giới. Sau khi nhận các giải Văn chương Brandenburg, giải Sách cho bạn đọc châu Âu, giải Viện Hàn lâm Darmstadt, giải Văn chương thế giới, năm 2002, Imre Kertesz đoạt giải Nobel Văn học. Ông là nhà văn Hungari đầu tiên nhận được giải thưởng cao quý và đắt giá này. Sau khi được trao giải Nobel, "Không số phận" đã bán được 400.000 cuốn - một kỷ lục chưa từng có ở đất nước Hungari chỉ có khoảng hơn mười triệu dân.

Mặc dù Imre Kertesz đã nhiều lần từ chối việc chuyển thể "Không số phận" thành tác phẩm điện ảnh, nhưng vì tiểu thuyết đã nhận giải Nobel, nên các nhà làm phim có thể mua bản quyền tác phẩm để chuyển thể thành kịch bản điện ảnh. Nhà sản xuất phim Lajos Koltai, người từng được đề cử giải Oscar đã "thắng thầu" trong việc làm phim "Không số phận". Một nhà biên kịch Hungari đã nhận hợp đồng viết kịch bản "Không số phận" để đưa lên màn bạc. Đến nước này, Imre Kertesz đành phải tìm mọi cách can thiệp để tác phẩm của mình không bị "tam sao thất bản". Ông đã đấu tranh đòi được quyền tự mình viết kịch bản và hợp tác chặt chẽ với đoàn làm phim. Bộ phim "Không số phận" với kinh phí 6,7  triệu bảng Anh, là kết quả của sự hợp tác ba quốc gia Hungari - Đức -Anh, trong đó Chính phủ Hungari cung cấp một nửa số kinh phí.

Những người làm phim "Không số phận" đã cố gắng tái hiện một sự thực lịch sử phũ phàng: Trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai, nhà cầm quyền Hungari đã hết sức "tận tâm" với Đức Quốc xã, "cõng rắn cắn gà nhà", thông qua các trường đoạn về những cuộc vây ráp, những hành động thóa mạ và đánh đập của cảnh sát Hungari đối với người Do Thái, thông qua một con số "biết nói": 650.000 trên tổng số 900.000 người Do Thái ở Hungari đã bị sát hại trong chiến tranh...

Nét đặc sắc của phim "Không số phận" còn ở chỗ: Lời thoại trong phim bằng tiếng Hungari chứ không phải là tiếng Anh như thông lệ, vì các nhà làm phim chủ yếu nhằm  tới khán giả là đồng hương của nhà văn. Sau hơn một tháng công chiếu tại Hungari, số lượng người xem đổ đến các rạp chiếu phim ngày càng tăng. Các trường học trên khắp đất nước Hungari đều tổ chức đưa học sinh đến rạp xem "Không số phận" với mục tiêu giáo dục: Thế hệ hôm nay và mai sau phải ghi nhớ bi kịch lịch sử của Hungari. Phim "Không số phận" được xếp trong danh sách nhóm những phim hay nhất về Chiến tranh thế giới thứ hai nói chung và nạn diệt chủng người Do Thái nói riêng

Mai Hiền
.
.
.