Nguyễn Trãi: Tài, tâm và họa
Nguyễn Trãi hoàn thành bản hùng ca Bình Ngô Đại cáo lưu danh thiên sử năm Mậu Thân 1428. Cũng năm đó, ông được vua Lê Thái Tổ phong cho chức Quan phục hầu, còn Tư Đồ Trần Nguyên Hãn trở thành Tả tướng quốc. Vậy mà chỉ tới tháng 2/1429, năm Kỷ Dậu, tai họa đã ập xuống đầu cả hai đặc đẳng công thần này của triều Lê.
Trần Nguyên Hãn đã bị bức tử, còn Nguyễn Trãi cũng bị tống giam một thời gian. Họa vô đơn chí, phụ thân của Nguyễn Trãi là Nguyễn Phi Khanh cũng mất vào đúng vào năm 1429. Năm sau, một đại thần khác là Thái úy Phạm Văn Xảo cũng bị sát hại. Sau những "nếm mật nằm gai há chẳng phải một hai sớm tối" ngoài sa trường vì nghiệp lớn của dân tộc, Nguyễn Trãi đã lại phải nếm ngay mùi cay đắng của kiếp bề tôi thời bình. Khi ấy ông đã ngấp nghé tuổi ngũ thập (ông sinh năm 1380).
Đau thì đau thật nhưng biết làm sao khác, một khi mình đã dốc lòng đi theo bậc hào trưởng họ Lê "mưu kế xa rộng, mở mang cơ nghiệp" nhưng lại mắc tính "đa nghi, hiếu sát", như lời lạm bàn đã ghi trong sách "Đại Việt sử ký toàn thư" (ĐVSKTT). Bất luận nhà vua là người thế nào, nhưng là kẻ sĩ, muốn giúp dân giúp nước thì không thể không can dự việc triều chính, mặc dầu Nguyễn Trãi luôn hiểu rằng "Tùng cúc do tồn quy vị vãn, Lợi danh bất tiện ẩn phương chân" (dịch nghĩa: Tùng cúc hãy còn, về cũng chửa muộn, Lợi danh không ham, ẩn dật mới phải). Và ông đã cố gắng hành xử sao cho đúng điều tâm huyết nhất của đời mình là "việc nhân nghĩa cốt ở yên dân". Năm 1433, vâng mệnh vua Lê Thái Tổ viết chiếu "Hậu tự huấn" để răn bảo Thái tử Nguyên Long, Nguyễn Trãi đã gửi gắm những điều tâm huyết của chính ông:
"Nay con không có công lao như ta, lại được nối nghiệp của ta; phàm những điều thiết yếu về giữ nước cầm quân, những phương cách sửa mình trị nước, gắng sức mà làm, không lúc nào yên vui trễ nải. Hòa thuận thân thuộc, nhớ giữ lòng hữu ái; thương yêu dân chúng, nghĩ ban chính sách khoan nhân. Đừng vì ơn riêng mà thưởng bậy, đừng vì giận riêng mà phạt bừa. Đừng ham của cải mà buông lung xa xỉ, đừng gần thanh sắc mà phóng túng hoang dâm. Cho đến xét mình dùng người, tiếp nhận lời can gián, ra một chính sách, một mệnh lệnh, phát một lời nói, một việc làm, đều do trung chính, dùng theo phép thường, ngõ hầu trên có thể đáp lòng trời, dưới có thể xứng sự trông đợi của dân chúng, thì nước nhà mới yên vững lâu dài...".
Thời thế càng nhiễu nhương, Nguyễn Trãi càng tha thiết với những lời tấu thấm đẫm thương yêu đối với đời, với người cùng khổ. Có lẽ vì thế nên ông không dễ kiềm chế khi thấy cảnh bọn tham quan sâu mọt chỉ ham đục khoét của công. Năm 1434, ông từng mắng thẳng vào mặt Nội mật viện Nguyễn Thúc Huệ, kẻ mà theo ông, "chỉ vì chút tài vơ vét thuế mà chiếm chỗ then chốt của thiên hạ" rằng: "Bọn các người là hạng bề tôi vơ vét, nay hạn hán thiên tai là do các người gây nên cả". Cần phải biết rằng Thúc Huệ khi đó là người tâm phúc của Đại tư đồ Lê Sát, phụ chính giúp vua Lê Thái Tông còn nhỏ tuổi, quyền nghiêng thiên hạ thì mới thấy Nguyễn Trãi quả thực đã cương trực nhường nào.
Xem xét việc gì Nguyễn Trãi cũng đứng trên chữ tâm. ĐVSKTT có chép chuyện về bảy tên ăn trộm nhỏ tuổi bị bắt năm 1435, can tội tái phạm tới mức mà nếu hình quan chiếu luật thì đều đáng xử chém.
"Bọn Đại tư đồ Lê Sát thấy giết nhiều người quá, trong lòng ngần ngại. Vua đem việc ấy hỏi Thừa chỉ Nguyễn Trãi. Trãi trả lời: "Pháp lệnh không bằng nhân nghĩa cũng rõ cả rồi. Nay một lúc giết bảy người, e không phải hành vi của bậc đại đức. Kinh Thư có câu: "An nhữ chi" (hãy yên với chỗ đứng của mình), sách Truyện có câu: "Tri chỉ nhi hậu hữu định" (biết dừng thì rồi mới vững). Thần xin thuật lại nghĩa của chữ “chi” để bệ hạ nghe: "Chi" có nghĩa là yên với chỗ đứng của mình, như trong cung là chỗ đứng của bệ hạ, thỉnh thoảng bệ hạ có ngự ra nơi khác, cũng không thể ở đó mãi, phải trở về trong cung, thì mới yên chỗ đứng của mình được. Người làm vua đối với nhân nghĩa cũng vậy, phải để lòng nơi nhân nghĩa, coi nhân nghĩa là chỗ đứng của mình. Tuy có lúc ra oai giận dữ, nhưng không thể như thế mãi được, xin bệ hạ lưu ý những lời của thần".
Năm 1437, Hành khiển Nguyễn Trãi và Lễ bộ ty giám Lương Đăng, một hoạn quan, được Lê Thái Tông đốc suất làm loan giá, nhạc khí, dạy tập nhạc múa... Chẳng bao lâu sau, Hành khiển Nguyễn Trãi tâu rằng:
"Kể ra, đời loạn dùng võ, thời bình chuộng văn. Nay đúng là lúc nên làm lễ nhạc. Song không có lúc thì không thể đứng vững, không có văn thì không thể lưu hành. Hòa bình là gốc của nhạc, thanh âm là văn của nhạc. Thần vâng chiếu soạn nhạc, không dám không dốc hết tâm sức. Nhưng vì học thuật nông cạn, sợ rằng trong khoảng thanh luật khó được hài hòa. Xin bệ hạ yêu nuôi muôn dân, để chốn xóm thôn không còn oán hận buồn than, như thế mới không mất cái gốc của nhạc".
Vua Lê Thái Tông đã khen ngợi bề tôi... Tuy nhiên, quan điểm thực đời thực đạo của Hành khiển Nguyễn Trãi đã khiến ông lâm vào mâu thuẫn sâu sắc với hoạn quan Lương Đăng, kẻ được vua sủng ái và luôn luôn tìm mọi cách để biến tình cảm mà vua dành cho mình thành những mối tư lợi. Vốn là kẻ ít học nhưng nhiều tham vọng, lại giỏi mọi trò trí trá, Lương Đăng đã ton hót với vua về lễ nghi triều chính một cách rất vô lối. Vậy mà không hiểu vì sao những lời y tâu đều lọt tai vua. Nguyễn Trãi không còn cách gì khác là xin thôi không dây dưa với việc soạn định lễ nhạc nữa. Và mùa đông năm 1437, không đừng được khi thấy những điều "vô lý lè lè" mà Lương Đăng bày vẽ ra đã được biến thành quy chế chung cho cả triều đình, Hành khiển Nguyễn Trãi cùng Tham tri bạ tịch Nguyễn Truyền, Đào Công Soạn, Nguyễn Văn Huyến, Tham nghị Nguyễn Liễu đã dâng sớ tâu rằng:
"Muốn chế tác lễ nhạc, phải đợi có người rồi sau hãy làm, được như Chu Công thì sau mới có lời chê trách. Nay sai kẻ hoạn quan Lương Đăng chuyên định ra lễ nhạc, chẳng nhục cho nước lắm sao! Vả lại, quy chế lễ nhạc của y là dối vua lừa dưới, không dựa vào đâu cả, như đánh trống là bao giờ ra chầu triều sớm, nay vua ra chầu rồi mới đánh. Theo quy chế xưa, khi vua ra thì bên tả đánh trống hoàng chung, rồi năm chuông bên hữu ứng theo, lúc vua vào thì đánh chuông chưng tân rồi năm chuông cũng ứng theo. Nay vua ra chầu, đánh 108 tiếng chuông, đó là số lần đếm tràng hạt của nhà sư. Nếu theo quy chế của nhà Minh thì vua ngồi ở cửa Phụng Thiên phải có sập vàng, ở điện Phụng Thiên phải có ngai báu, nay chỉ có một điện Hội Anh, lại chỉ có sập vàng, nếu di chuyển thì sợ không yên, đặt cả hai thứ cũng không được, thế là lễ nghi gì? Làm xe thì đằng trước có diềm, đằng sau mở cửa. Nay lại mở cửa đằng trước, quy chế xưa làm như thế hay sao? Khi vua ra thì có hô thét, khi vào thì có thu dẹp, đó là quy định của nghi lễ. Nay quan coi cửa xướng tâu mọi việc xong, vua còn ngồi mà người thu dẹp đã la thét dọn dẹp là làm sao? Vả lại, Đăng là đứa hoạn quan, quanh quẩn chầu hầu bên cạnh vua, thần trộm lấy làm ngờ lắm".
Thật tiếc là vua Lê Thái Tông đã không nghe thấu lời tấu của các trung thần. Buồn nỗi đời ấm lạnh, năm 1439, Nguyễn Trãi đành xin cáo quan về nghỉ tại Côn Sơn, Chí Linh, Hải Dương để vui với cảnh: "Hạm lý vân sơn vô sủng nhục, Thành trung hiên miện tổng trần sa..." (dịch nghĩa: "Mây núi bên hiên không có vinh và nhục, Ngựa xe mũ áo trong thành thảy là cát bụi...."). Nể tình, vua Lê Thái Tông thoạt đầu cũng ưng thuận như vậy nhưng rồi lại xuống chiếu vời Nguyễn Trãi ra không chỉ được nhận mọi chức cũ mà lại còn thêm chức Môn hạ sảnh tả ty Gián nghị đại phu kiêm Tri tam quán sự, đề cử chùa Tư Phúc ở Côn Sơn, đặc trách trông coi hai đạo Đông và Bắc. Lệnh vua ai dám chối từ. Nguyễn Trãi viết biểu tạ ơn vua, trong đó có đoạn:
"Cảm mà chảy nước mắt, mừng mà sợ trong lòng.
Tự thấy mình ngu hèn, sao cho xứng đáng..." --PageBreak--
Có điều gì như sự linh cảm định mệnh về tương lai ai oán trong những dòng tạ ơn đó. Chỉ hai, ba năm sau thôi, sự việc đau đớn đã xảy ra. Ngày 27/7/1442, vua Lê Thái Tông đi tuần về miền Đông, duyệt quân ở thành Chí Linh. Là phận bề tôi, dĩ nhiên là Nguyễn Trãi phải mời vua ngự chùa Tư Phúc. Cũng sách ĐVSKTT đã kể về chuyến đi định mệnh này như sau:
"Vua đi thuyền từ bến Đông, vào sông Thiên Đức, qua mộ Bạch Sư ở cầu Bông, xã Đại Toán, huyện Quế Dương, thì thuyền ngự không đi lên được. Các quân hết sức kéo dây cũng không nhúc nhích, hình như có người giữ lại. Vua bèn sai trung sứ đi hỏi khắp những người già cả xứ ấy xem chỗ này có vị thần nào. Các cụ già bảo:
"Ngày xưa, có người tên là Bạch Sư, khi còn sống rất tinh thông pháp thuật. Sau khi mất, chôn ở ven sông, thường có hiển linh, người xứ này vẫn tế thần long trọng lắm."
Trung sứ hỏi: "Tế bằng thứ gì?"
Người già bảo: "Tế bằng nghé".
Trung sứ đem việc ấy về tâu. Vua sai đem nghé non đến tế thần. Bấy giờ thuyền ngự mới đi được.
Tháng 8 ngày mồng 4, vua về đến vườn Vải huyện Gia Định bỗng bị bạo bệnh rồi băng...".
Cái chết bất thường của vua Lê Thái Tông đã trở thành thảm họa bất ngờ giáng xuống đầu quan Thừa chỉ Nguyễn Trãi. Số là, nhà vua sinh thời rất sủng ái người vợ thứ ba của Nguyễn Trãi, bà Nguyễn Thị Lộ, một phụ nữ vừa rất đẹp, vừa rất giỏi văn chương. Bà Lộ từng được vua Lê Thái Tông gọi vào cung, "phong làm Lễ nghi Học sĩ, ngày đêm hầu bên cạnh" (ĐVSKTT). Đêm vua Lê Thái Tông băng hà tại Lệ Chi Viên ở xã Đại Lại, ven sông Thiên Đức, bên cạnh ngài cũng là bà Nguyễn Thị Lộ. Thế là những cái miệng hiểm độc của lũ gian thần, vốn từ lâu đố kỵ và hờn tức con người tâm sáng như sao Khuê, đã "trăm dâu đổ một đầu tằm". Hành khiển Nguyễn Trãi và vợ là Nguyễn Thị Lộ đã bị hành quyết ngày 16/8. Cùng chịu oan khiên là cả ba họ. Chỉ có một người vợ lẽ của Nguyễn Trãi là bà Phạm Thị Mẫn đang có mang đã chạy thoát thân. Sau này bà sinh ra người con trai đặt tên là Nguyễn Anh Vũ...
Mãi tới năm 1464, hiểu thấu mọi điều, vua Lê Thánh Tông đã ban chiếu giải oan cho Nguyễn Trãi và truy tặng ông tước Tán Trù bá. Người con trai Nguyễn Anh Vũ cũng được phong làm tri huyện và được cấp 100 mẫu ruộng... Không rõ hay tin, oan hồn của nhà thơ vĩ đại có ngậm cười nơi chín suối?..
