Người bạn già của ba tôi
Tôi cố nhớ, dù hình ảnh lu mờ mà không sao nhớ được, khi tôi còn nhỏ, ở miền
Bác Dụng đến, tôi xếp bác vào loại "thanh săn". Dáng bác thanh thanh, vầng tráng rộng, da hồng hào, mắt tinh, người vui tính, hòa đồng và dễ gần. Bác về, tôi nhận xét cho ba tôi nghe, ông cười vẻ như đồng thuận
Thường khi đến nhà, bác bàn với ba về công tác biên tập. Nhưng chợt nhận ra hai con gái Yến Lan đã lớn, bác đề nghị kèm thêm việc phụ, khá quan trọng, là "Nếu Yến Lan đồng ý, mình sẽ làm ông mai cho hai tiểu thư nhà chú?". Ba tôi cười thay cho câu trả lời.
Bác Dụng làm mai ư? Trước hết, bác giới thiệu với ba tôi về anh chính trị viên cùng đơn vị anh Khương Thế Hưng - con trai của bác với người vợ trước.
Như tôi đã nói, ba tôi rất tâm lý. Ông rành tính nết từng con. Nghe bác Dụng kê sơ qua cái đơn về chàng rể tương lai: Nào tuổi tác, chức vụ, tính nết của anh cho ông nghe, ông lắng nghe, nhưng đến mục tuổi tác, thấy anh lớn hơn tôi 12 tuổi, làm ông chột dạ: "Con bé này khó tính, khó nết trong việc chồng con. Cậu này hơn tuổi so với nó hơi nhiều, chắc gì ổn". Vì cả nể, sợ phật lòng ông bạn già, ba tôi nêu lý do để trì hoãn: "Khoan đã anh, đợi con Bích về đây chúng ta hãy bàn đến chuyện đó. Tôi thấy có chỗ chưa hợp anh à". Chỉ vậy thôi mà bác Dụng dỗi: "Thôi nhé, không anh em gì hết, từ nay về sau, tôi không bao giờ đến đây nữa!". Rồi bác đùng đùng chụp lấy chiếc mũ cối trên đầu tủ, ụp lên đầu, quay ngoắt ra cửa.
Ấy thế mà vài hôm, bác lại vui vẻ đến nhà, đặt chiếc mũ cối lên nóc tủ, thủ thỉ với ba về vấn đề biên tập; về tình hình chính trị, về nhân phẩm của người cầm bút, như chưa hề có gì xảy ra.
Khác với mọi lần, thay vì nói nhanh, hôm ấy, bác chậm rãi nhả từng tiếng: "Thôi, ai bảo sao, nghĩ sao cũng được, Quân tử nhà nho hay Quân tử XHCN như Quang Dũng thường tặng cho mình cũng được tất, Yến Lan ạ, miễn là Quân tử. Đành rằng anh hùng và anh hùng cá nhân chủ nghĩa; hiện đại và hiện đại chủ nghĩa rất khác nhau. Nếu có "lạc hậu" chúng mình chịu "lạc hậu", song nhất định không chịu cơ hội chủ nghĩa. Cố mà giữ lấy bản lĩnh, bản sắc, bản chất của một con người chân chính để xứng đáng với danh hiệu kỹ sư tâm hồn như người đời thường tặng cho làng văn ta".
Mỗi lần tôi về thăm nhà, má thường kể lại những chuyện đã xảy ra. Đôi khi, tôi bắt gặp ánh mắt tò mò của ba nhìn tôi như để tìm ra cái gì đó mà ông chưa tận. Xong, ông mỉm cười ý nhị, nói: "Các chú khen con siêng năng, dễ thương... Các chú nói hai con gái nhà Yến giống như chị em Thúy Kiều, Thúy Vân đấy...". Tôi còn nghe các chú trêu tôi với anh Xuân Tùng, anh Thanh Tùng - nhà thơ trẻ nào đó trong cơ quan nữa.
Bác Dụng làm mai cho bạn của con không được, nghĩ: "Chà! Ta bắn súng không nên thì phải đền đạn, biết đâu thế lại hay đấy nhỉ!". Bác liền khuyên con trai - anh Khương Thế Hưng: "Mày thử đến gặp nó xem sao".
Anh Hưng rất quí ba má tôi. Lâu lâu, đến thăm ông bà, chỉ gặp mấy em (tôi làm tận Nông trường quốc doanh Ba Vì - Hà Tây) nên anh chưa biết mặt tôi tròn hay dài. Anh phải hỏi má tôi: "Thím ơi, thường thì em Lâm về vào lúc nào?".
Lần đầu, tại chân cầu thang, tôi vừa từ Ba Vì về tới, đang lui hui nâng chiếc xe đạp Phượng Hoàng lên vai, thì đúng lúc anh trờ tới. Không nói không rằng, anh chìa vai phải ra, đỡ lấy chiếc xe lên vai rồi chậm rãi bước lên gác. Vừa đi anh vừa hỏi: "Cô em nào đây?". "Biết tỏng là ai còn giả vờ" - Tôi nghĩ. Và gọn lỏn trả lời: "Bích Thủy". Dĩ nhiên, tôi cũng biết anh là anh Hưng, vì má tôi đã kể .
Lần gặp đó, anh hỏi gì, tôi trả lời nấy. Nhưng, qua ánh mắt, cách nói, tôi nhận ra anh rất thích tôi. Tôi không tự đề cao đâu! Chính anh đã nói với tôi tất cả, khi lên tận nông trường thăm tôi. Anh nói với tôi rằng, câu trả lời gọn lỏn của tôi hôm gặp ở chân cầu thang đã gây cho anh một ấn tượng rất hay về tôi và anh thích kiểu trả lời đó. Khi về nhà, bác Dụng muốn biết kết quả "đền đạn": "Thế nào mày?". Anh Hưng trả lời: "Bích Thủy đúng là Bích Thủy". Bác Dụng ngẩn người, không hiểu nổi câu trả lời của con trai!.... Hiện tôi còn giữ 2 lá thư của anh.
Năm 1971, miền Bắc bị lụt lớn, nước rút để lại "dịch mắt đỏ", mức độ lây lan rộng, nhanh. Bữa anh đến nhà, mắt anh đã bị lây mà còn hút thuốc nên vi khuẩn theo làn khói phủ khắp nhà tôi. Thế là khi anh về, mắt tôi nhức nhối, xót như bị xát muối. Soi gương thấy hai mắt đã tấy và đỏ au... Hết phép, tôi mang đôi mắt đỏ về Ba Vì, làm lây vài người nữa, rồi lại vài người nữa! Tôi mách ba, sau đó tôi nhận được thư anh: "Ba anh đến thăm ba em về bảo em bị đau mắt.. và em trách anh (đã làm em đau) biết nói sao nếu quả em đau mắt là do anh. Chúa chứng giám cho anh. Quả tình anh không muốn như vậy. Em biết đấy, lỗi lầm vì cá trích ve… nếu em không phải là em thì làm chi có chuyện anh cứ ở mãi từ chiều đến tối mịt tối mù mới chịu ra về…"
Sau đó, anh lên thẳng Ba Vì thăm tôi, không qua trung gian nữa. Anh tâm sự gần, xa ý của hai cha con anh. Tôi chỉ cười, không trả lời. Cô bạn cùng Tổ Kỹ thuật khuyên anh: "Anh phải hỏi nó cho rõ ràng, dứt khoát kẻo nó bắt cá hai tay". Nghe anh thuật lại, tôi cười rất tự nhiên. Cuối cùng anh tế nhị tự rút lui, không lên Ba Vì lần nào nữa! Rất lâu sau, tôi mới biết anh đã đi xa! Nếu lấy anh bây giờ tôi mồ côi chồng rồi!
Đầu năm 2002, hồi ký "Yến Lan, nhớ mãi về anh" của má tôi xuất bản. Mẹ con tôi ra Bắc, thăm và biếu sách cho bác Dụng, gặp bác tại nhà chị Băng Kính - con gái bác. Bác trông yếu ớt, răng rụng hết, hai hàm răng giả không có trụ bám, cứ bập lên bập xuống khi nói rất khó nghe! Tôi nhìn bác mà thấy buồn trong lòng.
Bác Dụng cũng bị u nang tiền liệt tuyến như ba tôi. Thấy tôi liếc nhìn chiếc thau men trắng có nước vàng, ngay cạnh bác, chị Băng Kính thì thào vào tai tôi: "Bác phải mang ống dẫn nước tiểu, đi đứng khó khăn, lâu nay chỉ quanh quẩn trong một không gian hẹp là ở giường thôi!".
Để chứng minh rằng tôi luôn nhớ tới bác, tôi đọc bài thơ "Một nửa, gấp đôi" bác viết vào năm 1968-1970, khi ở miền Bắc đang phát động phong trào "Vì Miền Nam ruột thịt mỗi người làm việc bằng hai".
Giọng đọc của tôi truyền cảm đến độ, cha con bác nghe xong xúc động, rưng rưng nước mắt, lính quýnh chạy lấy sổ, bút, bảo tôi đọc lại để ghi. Xong bác hỏi: "Con biết bài thơ này bác đã làm khi nào?". Tôi phá lên cười. Thật ngược đời, tác giả lại hỏi bạn đọc thời gian mình làm bài thơ!
Thấy tôi chốc chốc lại nhìn đồng hồ; còn má tôi thì xin phép ra về, vì bác còn phải ăn trưa mà, bác cố nài mẹ con tôi ráng ngồi thêm tí nữa. Má tôi nói: "Chúng em còn phải đến thăm anh Tế Hanh và Phạm Hổ…".
Hai mẹ con tôi đứng lên, bác cũng lóng ngóng đứng lên. Tôi xin bác ngồi yên trên giường, nhưng bác không chịu, đòi ra tận cửa tiễn chúng tôi. Thế là chị Băng Kính, một tay dìu cha, một tay bưng chiếc thau nước vàng đi cạnh. Tú Anh - đại tá quân đội đi bên phải bác, cùng ra cửa tiễn mẹ con tôi! Đến lan can bác thều thào: "Bác tiễn mẹ con đến đây có thấm vào đâu so với quãng đường mẹ con cháu đã vượt qua để ra thăm bác". Nghe bác nói, tôi cảm động ứa nước mắt. Tôi muốn biết hình ảnh ba tôi còn đọng trong tâm trí người bạn già này không, liền hỏi: "Bác còn nhớ ba Yến Lan của con không?". Giọng bác lạc đi trong nuối tiếc: "Yến Lan mà bác không nhớ thì bác còn nhớ ai hở con". Nói rồi bác yếu ớt đưa cánh tay trái lên dụi mắt.
Khó khăn lắm, hôm đó, mẹ con tôi mới từ biệt cha con bác được!
