“Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long” hay cõi lòng người Việt

Thứ Hai, 17/04/2006, 13:00

Có những người làm những câu thơ để đời nhưng không lấy văn chương làm mục đích. Ấy là Huỳnh Văn Nghệ. Có những câu thơ mà ta thuộc lòng nhưng không phải ngay từ đầu đã biết xuất xứ. Ấy là “Từ độ mang gươm đi mở cõi/ Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long”. Với tôi, Xuân Diệu chỉ nói ấy là thơ Huỳnh Văn Nghệ! Tưởng thế cũng đủ!

Vả lại, có gì phải thắc mắc khi hai câu thơ ấy đã chảy thẳng vào huyết quản tôi như một lẽ tự nhiên, chẳng khác “Nam Quốc sơn hà Nam Đế cư” trước đó cả 9 thế kỷ của tướng quân nhà Lý đứng chân Đất Rồng bay có tên Thường Kiệt. Như thể con mắt xanh của ông trời đã chấm các ông để “địa đồ hóa” Lịch sử Dựng nước và Giữ nước của người Việt biết bao yêu dấu! Sau này tình cờ qua sách báo tôi mới biết được hai câu thơ đã hóa hồng cầu ấy được chiết từ khổ đầu “Nhớ Bắc” của thi tướng họ Huỳnh, cho dù có đôi chút khác biệt:

Ai đi về Bắc ta đi với

Thăm lại non sông giống Lạc Hồng

Từ độ mang gươm đi mở cõi

Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long

Chao ôi nhớ, rõ người ấy, hay cùng lắm các bậc sinh thành, chào đời trên đất Bắc. Vậy mà không, chưa một lần chạm đất Tràng An. Lại nữa, theo Nguyễn Tý, Huy Thông, Trần Xuân Tuyết và nhiều người khác thì “Nhớ Bắc” được sáng tác tại Chiến khu Đ (Tây Ninh) năm 1946. Cũng không nốt. Bằng cớ là Xuân Diệu đã đưa những vần thơ da diết toát từ xương tủy ấy vào bài diễn thuyết của mình trong buổi khai mạc Tuần lễ văn hóa ủng hộ chiến sĩ Nam Bộ do Đoàn Văn nghệ Bắc Bộ tổ chức tại Nhà hát Lớn tối chủ nhật 10/10/1945. Với Xuân Diệu ta vỡ ra tất cả:

“Một bạn quê ở Sài Gòn, chưa từng ra quá Biên Hòa, Bình Thuận, có nói:

Ai đi về Bắc, ta theo với

Thăm lại non sông giống Lạc-Hồng

Từ lúc mang gươm đi mở cõi,

Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long!

...Đó là lời những người Việt Nam đã vào đất Thủy-Chân Lạp ngót năm sáu trăm năm, mà chưa được dịp về thăm Tổ cũ. Nghe nói những Thăng Long, Hà Nội, những Hồ Kiếm, Hồ Tây mà trong lòng nổi dậy cái thương nhớ mạnh mẽ của hàng nghìn năm”.

Cũng chỉ một Xuân Diệu “cha Đàng Ngoài, mẹ ở Đàng Trong” mới có thể “tri âm” đến cùng tận, thể hiện cái quặn nhớ thiêng liêng đến độ như một lời nguyền Bắc- Nam không gì chia cắt! Bài diễn thuyết này được Nghiệp đoàn xuất bản Bắc Bộ in xong thành sách tại Nhà in Xuân Thu chỉ một ngày sau đó với nhan đề “Miền Nam nước Việt và người Việt miền Nam”. Vậy là hầu như chắc chắn bài thơ đã được sáng tác vào năm 1940 tại sân ga Sài Gòn khi Huỳnh Văn Nghệ tiễn một người bạn ra Bắc như có tài liệu đã dẫn.

Vậy “Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long” và “Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long”, đâu là nguyên tác, đâu là dị bản? Nếu theo cái lẽ tầm nguyên thông thường là văn bản xưa nhất được coi là nguyên tác thì phải lấy câu của Xuân Diệu đã dẫn. Thế nhưng câu thứ hai không phải không có sức thuyết phục.

Thực vậy, từ độ Chúa Nguyễn Hoàng “mang gươm đi mở cõi” thì bề dày lịch sử của miền Nam đất Việt chưa thể là “Nghìn năm” được. Vả lại với thể biền ngẫu thì “Trời” đối với “Đất” hẳn là chỉnh hơn “nghìn năm” đối với “Đất”. Nếu sự thực là như vậy thì cũng không ai có thể trách Xuân Diệu vì ông nào đã gặp tác giả, nào đã có sách in “Nhớ Bắc” để có thể hiệu đính từng từ! Dẫu vậy, không thể phủ nhận được rằng “Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long” vẫn vẹn nguyên trong trí nhớ của bao người, nếu không muốn nói là: “Kẻ tám lạng, người nửa cân”, song hành cùng nguyên tác. Không chỉ Xuân Diệu mà cả Huy Cận cha tôi, cho đến cuối đời vẫn dẫn câu thơ đó mỗi khi có dịp. Nói cách khác, “nghìn năm” đã có cuộc sống riêng của nó dẫu rằng “Trời Nam” đã là đắc địa. Vậy giải mã thế nào đây sức sống mãnh liệt ấy?

Có thể khẳng định ngay rằng “Nghìn năm” tồn tại một cách đàng hoàng, vững chắc là bởi tính tượng trưng, độ mở của nó cả về thời gian lẫn không gian. Với “Trời Nam” thì người đọc có thể hiểu rằng “từ khi Nguyễn Hoàng Nam tiến cho đến bây giờ” hậu duệ của ông không lúc nào nguôi nhớ Kinh đô đất Tổ, còn với “Nghìn năm” thì không chỉ cho đến lúc này mà hàng nghìn, hàng vạn năm sau, mãi mãi nhớ về nguồn cội. Và điều này quan trọng hơn cả, như một lời thề son sắt. Trịnh Công Sơn chẳng đã yêu mãi ngàn năm đó sao!

Lại nữa, với “Trời Nam”, dù muốn hay không thì khái niệm những người con xa quê cũng bị bó hẹp trong một vùng đất, một không gian nhất định. Ngược lại, phạm trù xa xứ là mở đến vô cùng và vì vậy cũng vô cùng sức tập hợp của “Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long” đối với tất cả những ai mang trong mình giòng giống Lạc - Hồng dù ở chân trời hay góc bể. Có như vậy thì mới có thể lý giải vì sao hậu duệ đời thứ 26 của Long Tường hoàng tử Nhà Lý lưu lạc đến xứ Hàn những hơn 850 năm trước - Ly Sang Joon, Chủ tịch Công ty chứng khoán Bridge - mới đây lại đem cả gia đình về Hà thành Đất Tổ để tái nghiệp.

Nếu năm xưa người đã khắc khoải Chúa Nguyễn Hoàng - Người Đi Mở Cõi - thì Huỳnh quân ôi, bao người giờ lại nhớ người đây: trong những viên gạch xây nên một Thủ đô Đại Việt nghìn năm tuổi hẳn có “Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long”. Mong lắm câu thơ máu thịt của người Việt miền Nam ấy được nạm vào Khải hoàn môn mừng đón Vua ta Lý Công Uẩn từ nghìn xưa về lại Đất Rồng bay!

Cù Huy Hà Vũ
.
.
.