"Hai người đàn bà xóm Trại" vẫn hiển hiện bên bờ Sông Đáy
Làng Chùa của nhà văn Nguyễn Quang Thiều nằm bình yên bên dòng sông Đáy như bao nhiêu làng quê Việt
Nguyễn Quang Thiều tiết lộ rằng, những truyện ngắn của anh thường là chuyện kể về những người dân trong làng Chùa mà anh thân thuộc từ tấm bé. “Hai người đàn bà xóm trại” viết trong ký ức của một đứa trẻ nhớ về hình ảnh hai người đàn bà làng Chùa quê anh đã sống và đợi chờ cho đến khi họ trở về với đất.
Tuổi bé thơ, cậu bé Nguyễn Quang Thiều tóc khét mùi nắng thường hay lang thang trên rẻo đê, len lỏi ngoài bãi sông trồng đầy chuối để lấy dây chuối về kết thành trái bóng. In đậm trong ký ức cậu là hình ảnh mái nhà tranh nhỏ nơi có hai người đàn bà đã sống với nhau không biết bao nhiêu năm ngoài xóm trại. Cậu bé ấy cũng không còn nhớ được tên tuổi của họ. Hai người đàn bà ấy cùng đợi người đi xa về nên từ lâu họ đã dọn về ở cùng nhau, nương tựa vào nhau trên bãi sông này. Có những buổi trưa hè tóc bết mồ hôi, cậu bé Thiều ùa chạy vào nhà họ để xin nước uống. Vục cái gáo dừa vào chum nước mưa và uống một bụng thật no, chủ nhà còn thơm thảo mời cậu bé ăn khoai nóng vừa đổ ra cái rổ ở đầu hè.
Họ cứ sống như vậy qua những năm tháng tuổi trẻ, rồi tuổi già gõ cửa lúc nào cũng không hay. Hằng ngày, họ vẫn lẩn vẩn kể những câu chuyện cũ, chăm đàn gà, vẫn bắt chấy cho nhau mỗi chiều rồi nổi lửa thổi cơm và chìm vào những cơn mộng mị mỗi đêm. Những năm tháng cuối đời, họ đã dọn vào trong làng Chùa sống cùng con cháu, không sống cùng nhau nữa và rồi lần lượt đi về với đất đai. Cách đây 5 năm, người đàn bà thứ hai là nguyên mẫu trong truyện ngắn “Hai người đàn bà xóm trại” cũng đã qua đời. Người làng tiễn đưa họ về nằm lại trên cánh đồng làng bên dòng sông Đáy lúc nào cũng mênh mông gió.
Cho đến một ngày kia, chẳng hiểu do thời tiết, do tâm trạng hay một sức mạnh vô hình nào đó… câu chuyện về hai người đàn bà ngoài xóm trại làng Chùa bỗng hiển hiện trong tâm trí nhà văn. Nhà văn tâm sự: “Truyện ngắn “Hai người đàn bà xóm trại” viết trong ký ức của một đứa trẻ và hầu như không có sáng tạo văn chương mà chỉ thuần khiết là một câu chuyện kể lại theo trí nhớ khá lộn xộn, hình như không có dấu vết của nhà văn trong đó. Tất cả những mẩu đối thoại nhỏ, rồi cái không khí của truyện đều được Nguyễn Quang Thiều hồi tưởng rồi ghi lại mà thôi.
Hai người đàn bà trong ký ức tuổi thơ đã trở thành cô Mật, cô Ân rồi bà Mật, bà Ân trong truyện. Họ sống bên nhau, lẩn vẩn kể những câu chuyện cũ, vẫn bắt chấy cho nhau mỗi chiều. Và hằng đêm, vẫn mượn diêm để đi tiểu, để soi tìm con mọt đang gặm nhấm tấm áo quan… Hai nhân vật sống bằng niềm tin mãnh liệt, niềm tin ấy đã nâng đỡ họ trong những tháng năm tuổi trẻ và dìu họ qua những mùa đông giá lạnh của tuổi già. Họ sống bằng những cơn mơ hằng đêm, người đàn ông của họ trở về, để mỗi sáng ra, trái tim lại đập rộn ràng bởi khi đặt tay lên bụng họ lại thấy “đúng là bụng mình khang khác”. Và mỗi năm tết đến, họ lại chuẩn bị gói rất nhiều bánh chưng, những mấy chục chiếc để chờ đợi người đàn ông của họ, để luộc đi luộc lại cho đến khi bánh mốc xanh lên và họ ôm nhau ngồi khóc. Câu chuyện thật đẹp và buồn - nỗi buồn trong sáng, không gợi cảm giác cô đơn nhưng ám ảnh khiến người đọc có cảm giác khó tin đây câu chuyện có thật trong đời.
Sau khi truyện ngắn “Hai người đàn bà xóm trại” được đăng trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội, nhiều nhà văn ngạc nhiên vì tại sao lại có một người kể câu chuyện về phụ nữ nông thôn rành mạch và xúc động đến thế. Nhiều bạn đọc thì điện thoại hỏi thăm có phải hai người đàn bà ấy quê ở Thái Bình không, ở vùng trung du Vĩnh Phú không? Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Tú có lần hỏi: “Tại sao ông lại hiểu tâm trạng của họ rõ đến vậy, lại có được không khí ấy và ngôn ngữ ấy. Chắc suốt tuổi thơ Nguyễn Quang Thiều phải sống cùng với họ, phải thấm đẫm trong không khí ấy, thứ ngôn ngữ mộc mạc ấy và những trắc ẩn ấy”.
Sau này, khi đạo diễn, NSND Bạch Diệp đi tìm bối cảnh cho phim “Thời gian của dòng sông” (được chuyển thể từ “Hai người đàn bà xóm trại”), đã tìm về làng Chùa của Nguyễn Quang Thiều với hy vọng sẽ xây dựng bộ phim ngay trên mảnh đất sinh ra câu chuyện ấy. Một chiều nọ, nghe tiếng trẻ con lao xao bởi thấy có nhiều người lạ về làng, có hai người đàn bà trong một căn nhà nhỏ đơn sơ bên triền đê thò đầu ra xem. Đạo diễn, NSND Bạch Diệp kêu lên: “Trời ơi! Đây đúng là hai người đàn bà đó rồi!”, bởi hình ảnh của hai người đàn bà kia hiện lên đúng như hình ảnh bà đã đọc trong truyện của Nguyễn Quang Thiều. Nhưng sau đó, do bối cảnh ở đó đã có nhiều thay đổi nên đoàn làm phim đã tìm đến nơi khác để dựng thành bộ phim đầy ám ảnh mà nhiều người đã được xem.
Có thể nói hai người đàn bà ở xóm trại quê của nhà văn Nguyễn Quang Thiều hay những người đàn bà trong những câu chuyện của những nhà văn khác, có thể là câu chuyện người mà chúng ta đã biết, đã gặp ở đâu đó. Bởi hoàn cảnh ấy, số phận ấy, sự đợi chờ, sự mất mát ấy… gần như trải dài trên đất nước Việt Nam qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Những người đàn ông ra chiến trường để lại những người đàn bà ở lại hậu phương cày sới, gieo hạt, chăm sóc ruộng vườn, nuôi dạy con cái… Rất nhiều người đợi chờ và cũng rất nhiều người đàn bà góa bụa. Nhưng đến khi nhà văn Nguyễn Quang Thiều kể lại câu chuyện đó theo cách giản dị và lộn xộn nhất, thì gần như tất cả người đọc đều bàng hoàng: Thì ra trên đất nước này đã có hàng ngàn, hàng vạn phụ nữ đã sống và chờ đợi như thế
