Dời đô về Thăng Long: Quyết định sáng suốt của Lý Thái Tổ
"...Ở vào nơi trung tâm của trời đất, có cái thế rồng cuộn, hổ ngồi, đúng ngôi vị nam, bắc, đông, tây, thuận núi sông quay đi ngoảnh lại, đất đi rộng mà bằng, cao mà thoáng, dân cư khỏi chịu cái khổ ngập lụt, muôn vật dồi dào..." trích “Chiếu dời đô” của Lý Thái Tổ.
Trải mấy ngàn năm, vùng đất Hà Nội cổ được khai phá, đông đúc dần. Những làng cổ có tên Nôm là Kẻ (tức xuất hiện trước thời kỳ Bắc thuộc) ở đây tương đối dày đặc như Kẻ Cáo, Kẻ Giàn, Kẻ Mơ, Kẻ Mọc, Kẻ Noi, Kẻ Cót... có thể so sánh với các vùng đất cổ như Đông Sơn (Thanh Hóa), Phong Châu (Phú Thọ), Ngàn Hống (Hà Tĩnh), là những vùng đất cổ, dày đặc làng Kẻ ở nước ta. Các làng Kẻ vùng Hà Nội cổ xen kẽ với đầm lầy, rừng rậm. Có những khu rừng còn để lại tên như Gia Lâm (rừng da), rừng bàng Yên Thái (vùng Bưởi, quận Tây Hồ).
Người đầu tiên chọn nơi đây để xây đắp thành trì là Lý Bí - Lý
“Chiếu dời đô”-Bản khai sinh của kinh đô Thăng Long
Theo “Đại Việt sử ký toàn thư” thì đích thân Lý Thái Tổ viết “Chiếu dời đô”. Đây là kết quả của cả một quá trình “điều tra, khảo sát” (theo cách gọi của chúng ta ngày nay) từ trước đó. Trong thời gian còn làm quan cho nhà Lê (tiền Lê), từ kinh đô Hoa Lư về quê Cổ Pháp, chắc nhiều lần Lý Thái Tổ đã dừng lại ở tòa thành Đại La để tìm hiểu dân tình. Và vị trí thành Đại La ở “trung tâm của trời đất” đã hấp dẫn, cuốn hút ông. Vì thế mà mới lên ngôi tháng 10/1009 thì tháng 7/1010, ông đã dời đô từ Hoa Lư ra Đại

Thành Cửa Bắc.
Mở đầu bài chiếu phân tích lý do dời đô là lẽ tự nhiên, khi đô cũ không còn đáp ứng nhu cầu phát triển, xu thế đi lên của thời đại, của đất nước. Lý Thái Tổ là người hiểu sâu sắc sự tác động qua lại, sự gắn bó hữu cơ giữa kinh đô của một quốc gia với sự hưng thịnh của quốc gia đó. Lựa chọn được kinh đô hợp với quy luật phát triển thì vận nước mới dài lâu, quốc gia mới hưng thịnh. Bài chiếu lấy dẫn chứng từ các triều đại Thương,
Thực ra thì trong lịch sử lâu dài của dân tộc ta, cho đến thời đại Lý Thái Tổ, các triều đại Việt Nam cũng đã từng nhiều lần dời đô (hay là chọn đóng đô ở nhiều địa điểm khác nhau): thời Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu, Phú Thọ; An Dương Vương đóng đô ở Cổ Loa, Đông Anh; Hai Bà Trưng đóng đô ở Mê Linh, Phúc Yên; Ngô Quyền đóng đô ở Cổ Loa, Đông Anh; rồi hai nhà Đinh – Lê đóng đô ở Hoa Lư, Ninh Bình. Nếu Lý Thái Tổ lấy thí dụ trong lịch sử Việt
Toàn bộ ý chính của bài chiếu nằm gọn trong phần thứ 2. Bằng những câu văn cô đọng, hàm súc, bằng những lập luận chặt chẽ, chính xác, tác giả đã nêu lên đặc điểm về địa lý, những ưu thế của Đại La mà các địa điểm khác không thể có được: “Huống chi, thành Đại La là cố đô của Cao Vương, ở vào nơi trung tâm của trời đất, có cái thế rồng cuộn hổ ngồi, đúng ngôi vị nam, bắc, đông, tây, thuận núi sông quay đi ngoảnh lại, đất đi rộng mà bằng, cao mà thoáng, dân cư khỏi chịu cái khổ ngập lụt, muôn vật rất dồi dào. Xem khắp đất Việt ta chỉ đây là nơi thắng địa. Thật là nơi hội tụ quan trọng của bốn phương, nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời”.
“Chiếu dời đô” là bản khai sinh của kinh đô Thăng Long. Trên thế giới có nhiều kinh đô, nhưng hiếm có kinh đô nào có bản khai sinh mang dấu ấn ngàn năm như kinh đô Thăng Long của chúng ta. Một ngàn năm sau, đọc lại "Chiếu dời đô", ta càng thấm thía càng cảm phục tài năng, trí tuệ, tầm nhìn và ý chí quyết đoán sáng suốt của vị vua sáng lập triều đại nhà Lý
