Đầm nước mù sương
Huyện Hạ Hòa (Phú Thọ) có hai cái đầm lớn có nước ngầm thông nhau. Một đầm có tên đầm Chính Công. Đầm thứ là đầm Ao Châu. Đầm này không có dấu ấn bàn tay người cải tạo: nước tự có, cây cỏ tự mọc, cá mú tự sinh. Cả hai đầm nước nơi trú đóng của Hội Văn nghệ Việt
Ký ức của một đứa trẻ thuở mười ba, mười bốn tuổi là tôi sau mấy chục năm về vùng quê cũ có thể là một vùng sương khói. Ấy là huyện Hạ Hòa của tỉnh Phú Thọ; Ấm Thượng là huyện lị của huyện ấy. Anh về Ấm Thượng tìm em/ Nhà tranh một bức hương đêm một vùng. Xuân Diệu đã viết như thế. Đó là một trong những cái nôi đầu tiên của văn nghệ kháng chiến, nơi còn tồn chứa bao nhiêu bí mật về những cái tên danh giá nhất của văn nghệ cách mạng ở chặng đường đầu, mà xem ra, các bí mật ấy mãi mãi bị che khuất bởi sương khói của thời gian.
Hạ Hòa là một huyện ở tả ngạn sông Hồng, cách thị xã Phú Thọ khoảng 30 cây số, thời kháng chiến chống Pháp thuộc Liên khu 10, Chiến khu Việt Bắc. Huyện ấy có hai cái đầm lớn có nước ngầm thông nhau. Một đầm có cái tên nghe rất quyết liệt là đầm Chính Công. Đấy là tên hai người bạn trai cứu nhau mà chết nên thành tên.
Đầm thứ là đầm Ao Châu. Đầm Ao Châu có diện tích to hơn cả Hồ Tây của Hà Nội. Đầm này không có dấu ấn bàn tay người cải tạo: nước tự có, cây cỏ tự mọc, cá mú tự sinh. Cả hai đầm nước nơi trú đóng của Hội Văn nghệ Việt
Về chuyện màu nước của hai đầm ở Hạ Hòa còn có thể là xuất xứ của một tiểu thuyết dài của nhà văn nổi tiếng Nguyễn Huy Tưởng. Nguyễn Huy Tưởng quê Hà Nội, cùng ở một vùng đất với hai nhà văn nổi tiếng khác là Nguyễn Tuân và Vũ Trọng Phụng, ấy là Tổng Mọc.
Nguyễn Huy Tưởng là tác giả của “Vũ Như Tô”, của “Những người ở lại” và nhiều tác phẩm nổi tiếng khác. Ông lên Hội Văn nghệ Việt
Quê tôi ở thị xã Phú Thọ nhưng gia đình tản cư lên một huyện kề Hạ Hòa là huyện Thanh Ba. Tuy vậy, thỉnh thoảng tôi vẫn được lên Hạ Hòa vì anh cả tôi là anh Phạm Trọng Tiệp, hiện là cán bộ lão thành cách mạng, 60 năm tuổi Đảng, khi ấy là cán bộ của Ủy ban Hành chính kháng chiến Hạ Hòa.
Mỗi khi đi thăm anh trai, các anh bộ đội ở Đại đoàn 308 đóng ở quê tôi, trong đó có anh Quýnh ở đại đoàn ấy dẫn tôi đi. Chúng tôi ngồi trên thuyền nan để qua đầm. Khi ấy, tôi không biết những đại biểu kiệt xuất của Trung đoàn Tây Tiến cũng dùng thuyền qua đầm như chúng tôi, trong đó có một cặp bạn văn nghệ nổi tiếng. Ấy là nhà thơ Quang Dũng và nhạc sĩ Như Trang.
Thơ Quang Dũng thì ai cũng biết nhưng vì nhạc sĩ Như Trang chết quá trẻ nên chỉ trong ngành nhạc mới rõ. Trung đoàn Tây Tiến làm nhiệm vụ tình nguyện quân tại đất Lào. Địa điểm trú đóng chủ yếu là Hòa Bình nhưng cũng có lúc họ rủ nhau về nghỉ ở Phú Thọ. Hồi ấy, các chiến sĩ cả Trung đoàn Tây Tiến hy sinh nhiều nhất là vì sốt rét. Một trạm quân y ở Hòa Bình có một cái cồng do đồng bào Mường cho. Cứ mỗi chiến sĩ hy sinh thì trạm quân y lại gõ lên một tiếng cồng. Ấy là lý do tại sao nhạc sĩ Như Trang lại sáng tác bài hát “Tiếng cồng quân y” (từng được NSND Quang Thọ biểu diễn rất thành công).
Tôi nói thêm rằng, gia đình của nhạc sĩ Như Trang sau này sinh sống ở kề vườn hoa Hàng Đậu (Hà Nội) và có một hiệu ảnh mang tên ông. Như Trang là người nhà của nhạc sĩ thế hệ sau rất nổi tiếng là Đặng Hữu Phước. Như Trang và Quang Dũng đã có những ngày tháng nhiều kỷ niệm trên các con đầm mù sương của Hạ Hòa. Âm nhạc của nhạc sĩ Như Trang vừa có cái âm u trầm lắng của tâm hồn người chiến sĩ, vừa có cái mênh mang, huyền hoặc của các con đầm ở vùng Hạ Hòa.
Anh Lành, như bí danh thân yêu của nhà thơ Tố Hữu đã từng đi chơi thuyền trên đầm Ao Châu. Cụ Chuốt, người lái thuyền cho Tố Hữu có kể với tôi rằng, Tố Hữu băn khoăn không biết nên đặt tên bài thơ mới viết về các bà mẹ là “Bầm ơi!” hay “Ầm ơi!”. “Bầm” là từ gọi mẹ của Phú Thọ, nhưng người ven sông Hồng, ở mạn Chí Chủ,Ấm Thượng lại gọi là: “Ầm”. Chữ “bầm” phổ biến hơn, ở vùng địa dư rộng lớn hơn nên cụ Chuốt đã góp ý với nhà thơ lớn nên đặt tên bài thơ là “Bầm ơi!”.
Sau kháng chiến nhiều năm, Tố Hữu có lên lại Phú Thọ, gặp lại các bà mẹ mà vì họ, ông đã viết bài thơ nổi tiếng “Bầm ơi!”. Tố Hữu sinh ra ở Huế, bên bờ sông Hương thơ mộng. Dòng sông quê hương của Tố Hữu mỗi sớm mai cũng mù sương như các con đầm ở Hạ Hòa nên có thể dễ cảm thông chăng?
Tôi có một người bạn nhỏ tuổi hơn là nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Về thơ, anh có bài thơ rất nổi tiếng là bài “Vườn trong phố”. Cứ như tiểu sử của người được giải Hồ Chí Minh này thì anh gắn bó với phố nhiều hơn với vườn. Thế mà bài thơ “Vườn trong phố” đầy chất trung du là do đâu? Cũng là do hai cái hồ mù sương của tỉnh Phú Thọ.
Thân phụ của Lưu Quang Vũ là nhà thơ, nhà viết kịch nổi tiếng Lưu Quang Thuận. Lưu Quang Vũ gọi nhà thơ Lưu Trùng Dương là chú ruột. Anh sinh ra và lớn lên ở Hạ Hòa, ngay bên đầm Ao Châu. Hơi nước của trung du thấm đẫm tâm hồn anh.
Nguyễn Đình Thi, tác giả “Diệt phát xít”, “Người Hà Nội” và bài thơ nổi tiếng “Đất nước” cũng ngồi đó, trong một ngôi nhà không xa đầm Ao Châu, đêm đêm sáng tác trong màn, vì vùng đất này nhiều muỗi lắm. Tôi hoàn toàn không hiểu, trong những ngày tháng ấy, Nguyễn Đình Thi giao lưu thế nào với thơ ca nước ngoài mà có thể sáng tác tập thơ “Người chiến sĩ” hiện đại đến thế. Nhưng câu chuyện sau đây thì tôi hiểu. Ông nhắc đến bạn ông về những câu thơ huyền hoặc: Thời gian không hồng, thời gian tím ngát. Ấy không phải là màu thời gian vô hình mà là màu khói của thuốc phiện.--PageBreak--
Trong bao nhiêu nhà văn và nghệ sĩ đi kháng chiến, cũng có nghệ sĩ xuất thân từ gia đình giàu có, rời Hà Nội vẫn mang được theo vàng bạc bên mình. Và họ đổi vàng, đổi bạc để lấy thuốc phiện. Câu thơ gọi Việt Bắc là “U tì quốc” là viết khi hút. Bao nhiêu câu văn, câu thơ, câu nhạc còn buồn rơi, buồn rớt là sự tất yếu của một chặng đường trí thức thủ đô với phố phường đi kháng chiến.
Mãi sau này tôi mới gặp được một nhân chứng là một cụ già chở thuyền trên đầm Ao Châu. Cụ bảo, ông nhà thơ ấy đưa dọc tẩu lên thuyền, thở khói trắng và nói: “Khói này lạnh hơn nhiều so với khói bếp”. Cái ấy hay đến mức tổng quát, tôi cố tìm tên nhà thơ ấy mà không ra. Có người đoán ông là nhà thơ Đoàn Phú Tứ, tôi không dám chắc.
Một trong những cái tên không thể thiếu được ở Phú Thọ hồi ấy là nhà văn Nguyễn Tuân, vị Chủ tịch đầu tiên của Hội Văn nghệ Việt
Nguyễn Tuân không hợp với những nơi quá xô bồ như môi trường kháng chiến. Thế mà hợp. Cái con người đi đêm về hôm ở ngõ chợ Khâm Thiên, có bạn thân thiết là các cô gái “giăng hoa” của các nhà ả đào lại có thể thành một con người rứt bỏ mọi quá khứ, dứt bỏ cả đời sống riêng tư để đi kháng chiến. Suốt cả mấy năm ở Việt Bắc, Nguyễn Tuân hình như chỉ viết mấy bài báo chứ không có bài văn nào. Nhưng hình như đầm Ao Châu, đầm Chính Công và Phú Thọ đã phả hơi nước mù sương của tấm lòng quê chân thật để nhà văn cảm động suốt đời?
Là thế hệ đi sau, tôi biết Tô Ngọc Vân, họa sĩ hàng đầu của hội họa hiện đại Việt Nam đã rời Việt Bắc đi Điện Biên Phủ, nhưng ông sống ở Phú Thọ thế nào thì tôi không biết. Tôi biết nhà văn Nam Cao đã rời Tuyên Quang đi làm thuế ở Hà Nam và hy sinh thế nào, nhưng ông sống ở Phú Thọ thế nào thì tôi không biết. Tôi biết nhạc sĩ Văn Cao đã sáng tác trường ca “Sông Lô” ở quê tôi thế nào, nhưng ông viết ở nhà ai, đã cùng bà Băng, vợ ông, phải vất vả thế nào ở quê tôi thì tôi không biết.
Tôi biết nhà văn Tô Hoài và nhà văn Kim Lân những ngày sống ở Tuyên Quang ra sao nhưng họ đến Phú Thọ thế nào thì tôi không biết.
Họ đang ở đó, trong đám hơi nước mù sương của hai cái đầm huyền thoại của huyện Hạ Hòa. Trong đám hơi nước mù mịt thấy hiện lên biết bao gương mặt đầy tài năng và đầy tâm huyết của cả một chặng đường lịch sử.
Cái đọng lại của cả một thời văn nghệ kháng chiến là tâm đức. Rồi đây, ra sông, ra biển, con thuyền văn nghệ sẽ có nhiều ngọn gió lớn lộng thổi. Nhưng thiếu đi mấy đầm nước mù sương của quá khứ thì sẽ ra sao.
Tôi lại hình dung đầm Ao Châu vào tuần không trăng. Loài nhuyễn thể là cái con Rải ấy, không phải hiện lên để cướp đi những người đàn bà đẹp mà dìm xuống đáy đầm những gì vô nghĩa vô tình. Còn đầm nước thì vẫn mù sương
