Công phu cho một bài thơ

Thứ Sáu, 04/12/2009, 13:00
Trong sự nghiệp thơ ca trước cách mạng của Huy Cận, bài thơ "Tràng giang" có một vị trí đặc biệt. Nhà thơ Sóng Hồng (tức đồng chí Trường- Chinh) từng tâm sự rằng ông rất đỗi yêu mến bài thơ này, và mỗi lần nhớ đến, nó lại gợi cho ông lòng yêu quê hương đất nước. Bạn đọc hẳn không thể hình dung được, để có thể sáng tác nên một kiệt tác như vậy, nhà thơ Huy Cận đã phải vất vả, công phu đến thế nào.

Theo một tài liệu, nhà thơ Huy Cận cho biết: Năm 1939, Huy Cận đang học đại học Canh nông tại Hà Nội. Cảm thấy buồn và bế tắc trước cuộc sống hiện tại, ông thường hay đạp xe đi ngắm sông nước. Đã nhiều buổi chiều đông thi sĩ lặng đứng trên bến Chèm, ngắm cảnh trời man mác xa vắng. Và một hôm, thi sĩ nảy ra hai câu luật đường:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song

Kế đó, ông nảy ra câu thứ ba:

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Duy có câu thứ tư là thi sĩ phải đắn đo nhiều. Lần lượt có các câu sau hiện ra trong "phép thử" của ông:

Một cánh bèo xanh lạc giữa dòng
Một cánh bèo xanh lạc mấy dòng
Củi một cành đơn lạc mấy dòng
Củi một cành khô lạc giữa dòng
Củi một cành khô lạc mấy dòng

Tìm đến câu thứ 5 này thì khổ thơ coi như hoàn chỉnh. Và quả tình câu thơ "Củi một cành khô lạc mấy dòng" đắc địa hơn cả. Chưa hết, nhà thơ Huy Cận còn cho biết: Trong câu thơ "Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu", hai chữ "đìu hiu" là ông học ở "Chinh phụ ngâm": "Non kỳ quạnh quẽ trăng treo/ Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò".  Câu "Lớp lớp mây cao đùn núi bạc", chữ "đùn" nhà thơ trẻ học của Đỗ Phủ trong câu thơ "Mặt đất mây đùn cửa ải xa".

Riêng câu cuối của bài "Tràng giang": "Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà" lại gợi bạn đọc nhớ ngay đến câu thơ của Thôi Hiệu "Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai " qua bản dịch của Tản Đà. Thế mới biết, để làm nên một kiệt tác, thi sĩ nhiều khi đã phải vận dụng đến vốn đông tây kim cổ, cùng sự cân nhắc, chọn lựa ngôn từ hết sức kỹ càng, chặt chẽ. Quả là một sự lao động đáng khâm phục

Nguyễn Đức Long
.
.
.