Chủ tịch Hồ Chí Minh với phóng viên báo chí nước ngoài
Tất cả những phóng viên, nhà báo quốc tế đã từng gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh bao giờ cũng giữ lại ấn tượng sâu sắc và họ luôn tìm cách lý giải về sức cảm hóa kỳ lạ, vốn hiểu biết uyên bác, tài trí thông minh tuyệt vời, ý chí, nghị lực hoặc sự giản dị, lạc quan, thẳng thắn, kinh nghiệm và tự tin kết hợp với phong cách lịch thiệp, nho nhã của Người.
Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài ngày 22/1/1946: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui. Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.
Đánh giá được tầm quan trọng và kết quả thực tiễn to lớn của báo chí cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành nhiều tâm sức và thời gian cho công tác báo chí tuyên truyền trong nước; bên cạnh đó, những kinh nghiệm trong nghề làm báo (Le Paria, Thanh niên, Việt Lập...) và viết báo (1.535 bài báo dưới 53 bút danh) đã tạo cho Người một phong cách tiếp xúc và trả lời phỏng vấn các phóng viên, nhà báo nước ngoài vô cùng minh triết, linh hoạt, khéo léo và chuẩn xác từng câu chữ.
Tháng 9/1945, các phóng viên hỏi về tiểu sử cách mạng của mình, Hồ Chủ tịch nói: “Từ khi ra đời tôi đã thấy nước mình bị nô lệ. Không muốn sống cảnh nô lệ nữa, ngay từ thuở thiếu niên, tôi đã đấu tranh để giải phóng đất nước. Có lẽ đó là công lao duy nhất của tôi”.
Tháng 10/1945, phân tích với báo giới về thái độ của Chính phủ lâm thời Việt
Tháng 12/1945, tiếp nhà báo Pháp Misen Henrich, Người đưa ra nhận xét rất hài hước: “Nước Pháp thật là một xứ sở kỳ lạ. nước Pháp đã sản sinh ra những tư tưởng tuyệt diệu, nhưng khi xuất cảng, chẳng bao giờ nước Pháp cho đưa ra những tư tưởng đó!”. Sau bản Tạm ước 14/9, báo chí hai bên đưa nhiều tin thất thiệt, Hồ Chủ tịch phát biểu với các nhà báo quốc tế: “Một tờ báo có ảnh hưởng trong dân chúng rất mạnh, có thể giúp chính phủ rất nhiều. Báo chí Việt - Pháp bây giờ có thể giúp nhiều về chỗ làm dễ dàng mối quan hệ giữa hai dân tộc. Cố nhiên, chúng ta tôn trọng tự do của báo chí, nhất là hai nước tôn trọng dân chủ như hai nước Pháp và Việt
Ngày 25/5/1948, báo “Freres d’Armes phỏng vấn Người:
- Thưa Chủ tịch, Chủ tịch ghét gì nhất?
- Điều ác.
- Thưa Chủ tịch, Chủ tịch yêu gì nhất?
- Điều thiện.
- Chủ tịch mong điều gì nhất?
- Nền độc lập của nước tôi và của tất cả các nước trên toàn cầu.
- Thưa Chủ tịch, Chủ tịch sợ cái gì nhất?
- Chẳng sợ gì cả. Một người yêu nước không sợ gì hết và nhất thiết không được sợ gì.
Mấy ngày sau, biết tin đồng chí Võ Nguyên Giáp được phong tướng, một nhà báo Pháp phỏng vấn Người qua đài: “Xin Chủ tịch hãy cho biết dựa trên nguyên tắc nào mà phong tướng cho các vị chỉ huy?”. Bác trả lời rất hóm hỉnh: “Chúng tôi đánh du kích chống thực dân Pháp nên cũng phong hàm một cách du kích. Ví dụ: cán bộ quân đội nào đánh thắng một quan ba Pháp thì phong hàm quan ba. Theo nguyên tắc này (mà chắc ông cũng cho là hợp lý) thì đồng chí Võ Nguyên Giáp của chúng tôi đáng lẽ phải được phong mấy lần Đại tướng và Đô đốc (vì đã đánh thắng nhiều tướng và đô đốc Pháp).
Phóng viên Bơcset người Australia từng lặn lội khắp chiến trường Việt Nam đã không kìm được thắc mắc khi gặp Người: “Khi tôi hỏi Người: “Văn phòng của Chủ tịch ở đâu?”, câu trả lời khiến tôi vô cùng kinh ngạc: “Lúc nào trời tối thì ở ngoài hiên, khi nào trời mưa thì ở trong buồng ngủ”. Người ra đón tôi như đón một người quen cũ với bộ quần áo vải nâu và đôi dép cao su lốp ôtô. Tác phong giản dị không cầu kỳ đó, Hồ Chủ tịch suốt đời không thay đổi”.
Nghị sĩ, nhà báo, nhà hoạt động chính trị Agienđê ghi trong hồi ký sau lần gặp Bác Hồ: “Chủ tịch từ từ bước ra, tay chống ba toong và đi đôi dép cao su không thể nào lẫn được. Không có vẻ kiêu kỳ, không có gì ngạo mạn trong lời nói mà chỉ thấy niềm tin mãnh liệt vào nhân dân. Chúng tôi chưa bao giờ cảm thấy sự giản dị và sự vĩ đại lại đi gần với nhau như vậy. Tư tưởng và lời nói của Chủ tịch chứa đựng sự đau thương và anh dũng của cả một dân tộc đã làm nên lịch sử, nhưng sự hiền dịu tỏa ra lời nói thì chỉ có ở Người”. Sau này khi trở thành Tổng thống Chilê, một nhà báo hỏi ông rằng: “Những phẩm chất cách mạng mà ngài muốn có và nhà hoạt động chính trị nào là tấm gương của ngài?”. Agienđê trả lời ngắn gọn: “Tính trọn vẹn, lòng nhân đạo và sự khiêm tốn trang trọng của Hồ Chủ tịch”.
Ngày 12/10/1954, nhà văn Ba Lan M.Giulapxky gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Sơn Tây đã viết: “Người ra hiệu cho đồng chí phiên dịch không phải dịch. Khi nghe phóng viên báo “Sự thật” hỏi, Người trả lời bằng tiếng Nga, sau đó Người nói chuyện bằng tiếng Italia với phóng viên tạp chí “Unita”, bằng tiếng Anh với phóng viên báo “Công nhân”, rồi Người vui vẻ giải thích bằng tiếng Pháp tại sao mình nói được nhiều ngôn ngữ như vậy”.
Bác sĩ Thụy Điển Giôn Tecman được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời đến uống trà một buổi sáng năm 1958, nhớ lại: “Lúc ấy tôi định phỏng vấn Người để đăng báo, nhưng cuối cùng chính Người đã phỏng vấn tôi suốt 45 phút liền, vì Người muốn hiểu biết nhiều hơn nữa về phong trào công đoàn ở Thụy Điển”.
Năm 1962, nhà văn Nga Mariani Tsêkhốp dùng bữa cơm chiều với Người gồm: rau, dưa, đĩa cá kho và ly rượu thuốc. Vì anh nói tiếng Việt còn ngượng nghịu nên nhiều khi Bác phải giải thích cho anh bằng tiếng Pháp và cả tiếng Nga nữa. Mỗi khi nhắc tới bữa cơm đó, Mariani vẫn cảm động: “Hồ Chí Minh là bậc đại tài, đại nhân, đại đức. Đồng chí Hồ Chí Minh là vĩ nhân có một không hai. Nhân dân Việt
Ngày 7/5/1964, khi trả lời phỏng vấn của Hãng Phát thanh - Truyền hình Pháp (RTF) về quá trình hoạt động của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Trước đây tôi hoạt động cách mạng, bây giờ tôi vẫn phục vụ cách mạng và tôi sẽ tiếp tục làm như vậy”. Nguyện vọng của tôi cũng như nguyện vọng của nhân dân Việt Nam là xây dựng đất nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, tăng cường đoàn kết và giữ gìn hòa bình lâu dài trên thế giới”.
Năm 1966, nhà thơ Bungary Đimitrôva gặp Người lúc 6 giờ sáng để tránh báo động phòng không, kể: “Chúng tôi nói chuyện bằng tiếng Pháp, thứ tiếng Người nói rất giỏi. Chúng tôi uống nước chè ướp hương sen không có đường, như sinh hoạt trong một gia đình bình dị nhất. Người là chủ nhà, là chủ cả một đất nước mà chỉ mặc một bộ áo ka ki giản dị, chân đi đôi dép cao su không tất và có một lọ hoa hồng để trên bàn”. Trước lúc ra về, chị xin Người chữ ký kỷ niệm cho cuốn “Nhật ký trong tù” và ngay khoảnh khắc ấy chị phát hiện ra : “Con người vĩ đại có một thứ ánh sáng rất kỳ diệu. Người có phong cách rất tự nhiên và bình dị. Hồ Chí Minh, niềm hy vọng lớn nhất”.
Sáclơ Phuốcniô, nhà sử học Pháp đã phỏng vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1969, hồi tưởng: “Giọng nói của Người rất tự chủ, lúc nào cũng đi thẳng vào vấn đề, không chút nghi thức. Giờ phút được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh hôm ấy là một trong những giờ phút đáng ghi nhớ trong đời tôi. Người không để lộ với tôi những bí mật Nhà nước, không tìm cách dạy tôi một bài học về đạo đức hay chính trị nhưng càng nghe tôi càng thấy Người vừa nói về một vấn đề lớn của đất nước, vừa dạy cho tôi một bài học luân lý chính trị”.
Nhà báo Mađơlen Riphô nhớ như in cả một câu chuyện dài. Chị gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh lần đầu năm 1946, Người động viên chị: “Bây giờ con hãy làm việc, học tập. Khi nào trở thành nhà báo, con hãy sang Việt
Ngày 14/7/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời phỏng vấn của Marta Rohat, nữ phóng viên báo Granma (
Người chiến sĩ cách mạng lỗi lạc, nhà văn hóa lớn, cây bút kiệt xuất đã trả lời cuộc phỏng vấn cuối cùng của cuộc đời mình như vậy, như Thông tấn xã TASS nhận định: “Hồ Chí Minh là hiện thân của những phẩm chất tốt đẹp nhất của dân tộc Việt Nam và giá trị của toàn nhân loại; đó là trí tuệ, tính khiêm tốn, tài năng và sự giản dị”
