Chu Văn An, người thầy của muôn đời
Người Hà Nội coi sông Tô Lịch là giang linh thần quả không có sai. Bởi lẽ ở hai bên bờ sông này, biết bao tao nhân mặc khách, những anh hùng cái thế đã sinh ra và thành danh. Một trong những danh nhân đó là Chu Văn An.
Người đời tôn vinh ông bằng rất nhiều danh hiệu: Nhà Tiên Triết, Quốc Sư, Thái Sơn Bắc Đẩu. Và trên hết hậu thế mãi mãi tôn vinh ông ở nhân cách và phẩm giá của một người thầy.
Ở một đất nước bốn ngàn năm văn hiến như ở nước ta, hiểu rõ cái chìa khóa nhiệm màu của trí thức: “Nhân bất học bất tri lý” thì sự tôn vinh người thầy
Với tâm niệm đó tác giả bài viết này cũng xin được gọi ông bằng cái từ trân trọng và thiêng liêng: Thầy Chu. Cái làng Quang Liệt của thầy
Vải Quang, húng Láng, ngổ Đăm
Cá rô đầm Sét, sâm cầm Hồ Tây.
Theo thần phả, thầy sinh ngày 15 tháng 8 năm Nhâm Thìn (1292) tại thôn Văn, xã Quang Liệt, huyện Thanh Đàm – nay là Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội. Thân phụ thầy là cụ Chu Húy Thiệu người phương Bắc, một quan chức giỏi thiên văn địa lý. Thân mẫu thầy là cụ Lê Thị Chiêm, người thôn Văn. Thầy đỗ Thái học sinh tức tiến sĩ dưới triều Trần nhưng không ra làm quan, sống an bần lạc đạo tại quê nhà. Học thức của thầy uyên bác, nổi tiếng trong thiên hạ.
Thầy mở trường dạy học tại quê nhà. Dấu tích trường xưa nay thuộc thôn Huỳnh Cung. Thầy là người đầu tiên phân lập trình độ người học để đặt lớp. Cũng là người đầu tiên biên tu sách giáo khoa cho nhà trường. Hình thức trường lớp do thầy đặt ra đời sau cứ thế mà theo.
Khâm phục tài đức của thầy, sĩ tử theo học rất đông, có tới 3.000 người. Có cả học trò từ Kinh Bắc, Sơn
Có người đỗ đạt cao như Lê Quát đỗ Tiến sĩ đời Trần Dụ Tông và Phạm Sư Mạnh đỗ Tiến sĩ đời Trần Minh Tông, làm quan đến chức Nhập nội hành khiển tức Tể tướng.
Đức tài của thầy
Truyện rằng: Trong lớp học của thầy
Cậu về đầm Mặc, niệm thần chú rồi vung cái bút lên trời. Thế là mây đen ùn ùn kéo đến, cùng với sấm chớp và mưa ào ào đổ xuống. Cánh đồng đầy tràn nước, xóm làng bừng lên sức sống. Nhưng cậu đã làm lộ thiên cơ, vì là con thủy thần nên đã bị trời đánh chết, hiện nguyên hình bên đầm Mặc một con thuồng luồng.
Nơi người con trai thủy thần hy sinh thân mình để cứu dân giờ đây là miếu thờ. Nhiều làng quanh đầm Mặc ngày nay vẫn còn tục thờ thủy thần cũng là từ cái sự tích này.
Thầy Chu là một danh sư nổi tiếng như vậy nên vào khoảng năm 1924 Vua Trần Minh Tông đã vời thầy vào cung dạy Thái tử Vượng tức Vua Trần Hiển Tông.
Ngoài việc dạy học thầy còn tham gia quốc sự. Vì vậy thời Trần Minh Tông, chính sự không có gì lầm lỗi là do có sự tham chính của thầy
Khi Thái tử Vượng lên ngôi tức Trần Hiển Tông, thầy
Thời Trần Hiển Tông nhà Trần còn mạnh nhưng Trần Hiển Tông mất sớm, mới 23 tuổi. Trần Dụ Tông lên ngôi. Từ đấy chính sự suy đổi, đạo đức băng hoại, do trung gian nịnh thần thao túng.
Thầy Chu nhiều lần can gián. Dụ Tông không nghe, triều đình càng nghiêng ngả. Vì vậy thầy
Đơn độc một mình mà dám chống lại cả một tập đoàn thế lực, vốn có thói quen: Trung ngôn nghịch nhĩ.
Phẩm tiết và trung dũng của thầy đáng để cho muôn đời sau suy ngẫm cảm phục. Tới nay người ta vẫn chưa rõ bảy tên nịnh thần tham nhũng bị lên án kia là những kẻ nào bởi lẽ Trần Dụ Tông đã giấu nhẹm đi.
Lòng trung không được thấu tỏ. Thầy Chu treo áo mũ từ quan, tiếp tục về quê dạy học. Một lần đi vãn cảnh ở núi Chí Linh thấy thiên nhiên nơi này u nhã, rất hợp với tâm trạng, người đã ở tuổi ngũ thập tri thiên mệnh. Thầy lui về làm ngôi nhà cỏ trên núi Phượng Hoàng dạy học, làm thơ, kiếm củi độ thân. Tiêu dao cùng lam sơn thủy tú.
Một thời gian sau Vua Trần Dụ Tông có mời thầy về tham chính nhưng thầy không nhận. Khi Dụ Tông mất năm 1369, Trần Nghệ Tông lên thay. Được tin, thầy
Ở kinh thành thầy bị suy yếu và đã mất vào ngày 26 tháng 11 năm Canh Tuất (1370) tại núi Phượng Hoàng, xã Văn An, Chí Linh thọ 78 tuổi.
Sau khi thầy mất vua ban tên thụy là Văn Trịnh Công, được đặc ân tòng tự trong Văn Miếu Quốc Tử Giám. Người duy nhất được thờ trong Văn Miếu cùng với Khổng Tử.
Ở quê Thanh Liệt có hai nơi thờ thầy là miếu Chu Công Từ và đền Nội.
Trên bức hoành phi ở đền có bốn chữ: Đức Thủy Linh Trường. Hàm ý: Tài đức của Tiên Triết
Mộ thầy
Theo Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú, thầy Chu có nhiều sách nhưng đã thất truyền. Chỉ còn lại 11 bài thơ trong tập Toàn Việt Thi Lục và Phượng Sơn Từ Chí Lược. Tương truyền thầy cũng là tác giả: “Y học yếu giản tập chú di biên”, “Thanh từ quang liệt chu thi di thư”.
Thơ văn thầy
Kết thúc bài viết này, xin dẫn ra đây sự đánh giá của người xưa. Đó là Sử thần Ngô Sĩ Liên, trong “Đại việt sử ký toàn thư”, ông viết:
“Bao nho giả nước ta… những kẻ chỉ ưa công danh phú quý, ăn lộc giữ mình. Hèn cúi trước cửa quyền, cấm chưa thấy người nào chỉ vì dân lo đức để dân được nhờ như Chu Văn Trinh ở đời Trần.
Văn Trinh công thờ vua thì nói thẳng trước mặt, việc xuất hay xử đều có lý lẽ, rèn đúc nhân tài thành công khanh cao thượng tiết tháo khiến thiên tử không bắt nổi làm tôi. Nét mặt nghiêm nghị mà đạo làm thầy được tôn, lời nói nghiêm nghị mà kẻ nịnh phải sợ. Đáng là bậc tôn sư của nhà nho nước
Ngày nay, sự nghiệp giáo dục đã được Đảng và Nhà nước ta chăm lo. Sự nghiệp trồng người đang là quốc sách. Tưởng nhớ đến vị quốc sư, bậc thầy của muôn đời Chu Văn An. Thật là dịp để chúng ta soi lại mình, tự vấn mình mà học lại những gương sáng của tiền nhân
