Che Guevara, một đời huyền thoại

Thứ Bảy, 19/05/2007, 13:30
Che Guevara (1928 – 1967) sinh ở Argentina. Năm 1956 tham gia cuộc đấu tranh chống chính quyền độc tài Cuba. Năm 1959 trở thành công dân Cuba, từng giữ nhiều chức vụ cao trong chính quyền cách mạng...

Năm 1965 ông bí mật sang các nước châu Phi, sau vào Bolivia thành lập tổ chức “Trung tâm du kích” tiến hành đấu tranh vũ trang chống chính quyền phản động Bolivia. Năm 1967, ông bị chính quyền Bolivia sát hại.

Ngày 9/10/1967 là một ngày bi thương trong lịch sử cận đại, bởi vì ngày ấy, Che Guevara – người anh hùng cách mạng của Mỹ Latinh đã hy sinh anh dũng ở tuổi 39.

Lúc bấy giờ, đội du kích do ông lãnh đạo đang bị liên quân Bolivia và Mỹ vây chặt, đến đầu tháng 10, chỉ còn lại có 16 người. Ngày 8/10, quân đội Bolivia tấn công vào căn cứ địa của du kích, Che Guevara ra lệnh cho các đồng chí chống trả quyết liệt.

Trong khói lửa mịt mùng, khẩu cacbin của ông bị đạn địch phá vỡ nòng, cánh tay phải của ông cũng bị thương, không còn chiến đấu được nữa, đành để địch bắt làm tù binh. Lúc đó vào khoảng 4 giờ chiều. Có hai chiến hữu cùng bị bắt với Che Guevara.

Sau khi bị bắt, Che Guevara bị một sĩ quan Bolivia và một sĩ quan tình báo Mỹ thẩm vấn, nhưng ông tuyệt đối không nói một lời. Tin ông bị bắt lập tức được đăng trên báo chí Bolivia. Tổng thống Bolivia liền triệu tập các tướng lĩnh lục quân cùng nhân viên tình báo Mỹ họp khẩn cấp.

Trong cuộc họp đó, họ quyết định không được để cho Che Guevara sống mà thẩm vấn, vì thế nào ông cũng lợi dụng diễn đàn ở phiên tòa để tuyên truyền cách mạng.

Thế là, họ ra lệnh xử tử ông ngay lập tức. Khoảng 4 giờ chiều ngày 9/10/1967, tức sau 24 giờ Che Guevara bị bắt, một sĩ quan đến giơ súng bắn vào tay chân ông, lúc đầu viên sĩ quan đó chỉ muốn bắn bị thương làm cho Che Guevara đau đớn, nhưng sau đó hắn thấy phiền toái, nên dứt khoát gọi mấy tên lính đến hạ sát ông.

Sau này khám tử thi thấy Che Guevara bị bắn 9 phát đạn, có hai phát trúng vào ngực. Cùng lúc Che Guevara bị bắn chết thì có hai chiến hữu của ông cũng bị hành quyết.

Bọn giết người bao gồm cả nhân viên Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA), sau khi bắn chết Che Guevara xong, chúng đáp trực thăng bay về La Paz, thủ đô Bolivia, còn di hài Che Guevara chúng dùng vải bạt bọc lại và dùng chiếc trực thăng khác đưa về Vanoguande – Tổng bộ lục quân.

Thi hài Che Guevara được đưa vào một bệnh viện để xác định danh tính, nhân viên CIA đều tham gia cuộc giám định này. Lúc bấy giờ, phóng viên báo chí toàn cầu được tin đều kéo đến đây.

Sau khi khám nghiệm xong, chúng để một thời gian ngắn cho các phóng viên chụp ảnh ông. Bọn phản động Bolivia và CIA không ngờ rằng tấm ảnh chụp di thể Che Guevara đã trở thành tấm ảnh của người anh hùng tử nạn ở thế kỷ XX.

Bởi vì nét mặt Che Guevara rất kỳ lạ. Ông nằm trên băng ca, nửa thân trên mình trần, gầy gò như một lời tố cáo cuối cùng đối với thế giới tàn bạo, bất nhân.

Khuôn mặt đầy râu ria của ông có sắc thái của một thần tượng bị nạn, trên mặt như nở nụ cười bi thương. Tấm ảnh này sau khi được giới báo chí toàn cầu đăng lên, không những không có tác dụng tuyên cáo Che Guevara đã chết, mà trái lại hình tượng đạo đức của ông càng được người đời hết lời ca tụng.

Tấm ảnh Che Guevara đầu đội bêrê hơi lệch do cố nhiếp ảnh gia Cuba Alberto Korda chụp cách đây 46 năm và tấm ảnh chụp ông bị bắn chết đã trở thành biểu tượng của thanh niên Âu - Mỹ trong phong trào đấu tranh ở thập niên 60 của thế kỷ XX, thậm chí đến bây giờ hai tấm ảnh ấy vẫn còn được in trên áo phông của nhiều thanh niên thế giới.

Che Guevara sinh ngày 14/6/1928, cha ông là một bác sĩ nổi tiếng của Argentina, một nhà hoạt động tích cực của giới thượng lưu, và mẹ ông là một người phụ nữ xinh đẹp khéo léo trong xã giao.

Trong ký ức tuổi thơ, có một lần mẹ đưa ông cùng đi tham gia hội đua thuyền của giới thượng lưu, do mẹ mải mê đua thuyền một mình, để con trai bị gió thổi bay xuống nước, tối về ông bị cảm lạnh, và bệnh hen xuyễn đã hành hạ suốt đời.

Nhưng ông không chịu khuất phục trước căn bệnh phiền toái này. Thời trẻ, ông biết mình bị hen rất nặng mà vẫn thích chơi đá bóng – một môn thể thao dễ ảnh hưởng đến cơ quan hô hấp. Ông tổ chức ra đội bóng và khi đi chơi bóng, ông thường mang theo thuốc để đề phòng.

Một lần, đang thi đấu, bệnh tái phát, nhưng thuốc mang theo rơi mất rồi, cơn bệnh suýt cướp đi sinh mệnh của ông. Qua câu chuyện này ta thấy Che Guevara không chịu cúi đầu trước số phận.

Do xuất thân từ xã hội thượng lưu, nên thời trẻ Che Guevara sống khá thoải mái. Cha ông mong ông kế nghiệp ngành y của mình, nhưng mẹ ông lại thích để con tự lựa chọn. Cuối cùng Che Guevara chọn nghề y, sau đó vào học ngành y thuộc Đại học Buenos Aires.

Trong thời gian học ở trường này, có hai lần ông cùng bạn bè cưỡi môtô đi chu du 5 nước Nam Mỹ, lộ trình 1,2 vạn km. Qua cuốn sách “Du lịch môtô trước ngày đi làm cách mạng” của ông xuất bản sau này, ta thấy lòng yêu thương nhân loại của Che Guevara bắt đầu nhen nhóm từ hồi ấy.

Nhưng động cơ chủ yếu nhất khiến Che Guevara đi làm cách mạng là vào năm 1954. Năm ấy ông sang Quatamala, đúng thời điểm đó tổng thống nước này là Jacobo Arbenz đang tiến hành cải cách xã hội, chống lại sự lũng đoạn của Mỹ, quyết định quốc hữu hóa “Công ty liên hợp rau quả” của Mỹ.

Tức thì, Cục Tình báo Trung ương Mỹ cùng những người lãnh đạo của “Công ty liên hợp rau quả” liền câu kết với quân đội Quatamala làm cuộc chính biến, lật đổ Tổng thống Jacobo Arbenz. Qua sự kiện này, Che Guevara thấy được bi kịch của châu Mỹ Latinh là do nước Mỹ thao túng.

Thế là Che Guevara quyết chí đi làm cách mạng để giành quyền tự chủ cho châu Mỹ Latinh. Cùng năm đó, ông đã sang Mexico gặp gỡ Luật sư Cuba, Fidel Castro. Fidel Castro tìm được người bạn quan trọng cùng chí hướng, còn Che Guevara tìm được Cuba - một đất nước đầu tiên ông nguyện hiến thân ở châu Mỹ Latinh.

Tháng 11/1956, Fidel Castro, Che Guevara cùng 82 trí thức đáp con tàu Grama bí mật trở về Cuba. Vừa đổ bộ vào bờ, họ gặp ngay quân phục kích của tên độc tài Batista. Chỉ còn có 22 người thoát nạn, họ liền triệu tập một số học sinh, sinh viên, trí thức tiến hành đánh du kích.

Năm 1958, sau chiến dịch Santa Clara, đội du kích đã lật đổ được chế độ độc tài Batista và cuối cùng họ tiến thẳng tới La Habana, cách mạng Cuba thành công!

Đầu năm 1965, Che Guevara biến mất khỏi Cuba chừng nửa năm. Bí mật đó mãi sau này, đọc cuốn “Tình yêu châu Phi: Nhật ký cách mạng Congo” của ông người ta mới rõ.

Vốn là Che Guevara dẫn 100 đội viên du kích Cuba sang Congo, giúp nhân dân Congo thoát khỏi ách thống trị của đế quốc thực dân, nhưng “Tình yêu châu Phi” của ông cuối cùng được chứng minh là ảo tưởng.

Ông và đội du kích chưa hiểu gì về tình hình Congo, chỉ có ý chí và niềm tin thì chưa đủ. Kinh nghiệm ở Congo cho thấy đây là thất bại đầu tiên đối với chủ nghĩa lãng mạn của Che Guevara.

Nhưng thất bại ở Congo không làm cho Che Guevara nhụt chí. Tháng 11/1966 Che Guevara lại dẫn đầu đội du kích trí thức, giả trang thành thương nhân Uruguay tiến vào đất Bolivia, sau chuyển đến vùng núi trung bộ Bolivia.

Hoạt động được một năm tròn ở Bolivia thì đội du kích bị thất bại và Che Guevara tử trận tại đó. Trong cuốn “Nhật ký Bolivia”, ông đã ghi lại một cách chân thật về quá trình chiến đấu rất gian khổ.

Việc Che Guevara gặp nạn ở Bolivia không có gì khó hiểu. Sau khi cách mạng Cuba thành công, nước Mỹ bắt đầu lo ngại châu Mỹ Latinh sẽ thoát khỏi bàn tay mình, sẽ làm tổn hại đến lợi ích của nước Mỹ.

Truyền kỳ anh hùng Che Guevara bắt đầu hình thành ngay sau khi ông tử nạn. Cái chết của Che Guevara được nhà triết học Pháp Jean Paul Sartre tôn vinh là “Anh hùng đương đại vĩ đại nhất”.

Phong trào thanh niên trí thức cánh tả ở Âu, Mỹ nổi lên vào thập niên 60 của thế kỷ XX, trong phong trào đó có 7 anh hùng cánh tả mới được tôn vinh, thì Che Guevara là người đứng đầu bảng.

Cả cuộc đời Che Guevara là một truyền kỳ, cái chết của ông cũng trở thành truyền kỳ, thậm chí di hài ông cũng trở thành truyền kỳ. Sau khi Che Guevara chết, bọn quân phiệt Bolivia và Cục Tình báo Trung ương Mỹ cắt đôi tay của ông rồi cho người đưa đến cho Fidel Castro để uy hiếp người anh hùng Cuba.

Còn thi thể Che Guevara cùng thi thể các đội viên du kích khác chúng đem chôn vội vàng vào một ngôi mộ bí mật. Sau mấy lần thay đổi chính phủ ở Bolivia, mộ của ông dần dần bị quên lãng.

Nhưng đến tháng 7/1997, người ta đã tìm được mộ ông, sau khi giám định chính xác, di cốt của ông cùng di cốt của 5 đội viên du kích được đưa về an táng tại Cuba vào tháng 9 cùng năm.

Hiện giờ ông và các đội viên du kích được an táng tại nghĩa trang Santa Clara cách thủ đô La Habana về phía nam 300km. Ngày 14/10/1997, hài cốt của họ được đưa đến thị trấn này, cả thị trấn biến thành một rừng hoa, mấy chục vạn người đã đến đưa tiễn ông về cõi vĩnh hằng

.
.
.