Biết để hiểu về Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường

Thứ Hai, 21/11/2011, 08:00
Trao đổi với tác giả Thuỵ Khê.

LTG: Trên đài RFI (tháng 9/2011), nhà nghiên cứu văn học Thụy Khuê có công bố 3 kì viết về GS.TS, Luật sư Nguyễn Mạnh Tường trong "Hồ sơ Nhân văn - Giai phẩm". Cá nhân tôi đặc biệt chú ý đến kì đầu tiên: Giai đoạn trước 1954.

Qua bài viết này, tôi xin cung cấp thêm một số tư liệu để những người làm công tác nghiên cứu văn học sử trong nước cũng như quốc tế Biết để Hiểu về Nguyễn Mạnh Tường.

1- Về Lễ niệm 100 năm ngày sinh GS.TS Nguyễn Mạnh Tường, bà Thụy Khuê viết: "Ở trong nước, nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh (16/9/1909 - 16/9/2009), Nguyễn Mạnh Tường được thần tượng hóa trở lại, với những mỹ từ "thông minh siêu việt", "lưỡng khoa tiến sĩ", "kỷ lục chấn động học đường nước Pháp", "nhà sư phạm lỗi lạc"... Những điều đó ít nhiều có thật, tiếc rằng còn một sự thật đáng nói hơn là cuộc đời và tác phẩm của ông, hiện vẫn bị chôn vùi trong bóng tối…".

"Còn phần lớn những học trò cũ, nay đã thành các nhà giáo nhân dân, không ngần ngại xóa bỏ quãng đời sa mạc hơn 30 năm của ông, để thay thế bằng một sự nghiệp liên tục tốt đẹp, không vết phong trần (…) Sự đánh bóng và ngoa ngôn, cũng là cách chôn thày thêm lần nữa".

Lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh GS.TS Nguyễn Mạnh Tường được tổ chức vào ngày 24/12/2009 tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội - nơi ông là Phó Giám đốc đầu tiên. Tôi tham dự từ phút khai mạc cho đến khi bế mạc. Bà Thụy Khuê không tham dự buổi lễ đó nên không biết được diễn biến cụ thể, từ đó đưa ra những nhận xét võ đoán, thiếu căn cứ.

Tại buổi lễ, không chỉ có phần tham luận bằng văn bản, mà còn có phần trao đổi ý kiến giữa các đại biểu vốn là học trò của GS.TS Nguyễn Mạnh Tường. Những học trò ấy có người đã 90 tuổi, vốn là học trò Trường Bưởi như ông Hữu Ngọc (nguyên Giám đốc Nhà xuất bản Thế giới), ông Nguyễn Bá Bảo (nguyên Đại sứ Việt Nam tại Australia và New Zealand), ông Lê Kim Chung (nguyên Đại sứ Việt Nam tại Liên hiệp quốc); có người từng làm Bộ trưởng như GS.VS Phạm Minh Hạc (nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục); có người là lớp học trò từ Trường Dự bị Đại học và Sư phạm Cao cấp như PGS Nguyễn Văn Hoàn (nguyên Phó Viện trưởng Viện Văn học), GS Đặng Thanh Lê (Giám đốc Trung tâm Việt Nam học - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội)… Ngoài ra còn có sự tham dự của GS.TSKH Vật lý Đỗ Đình Chiểu - Việt kiều tại Pháp. Họ đã có những ý kiến trao đổi thẳng thắn về "quãng đời sa mạc hơn 30 năm" của GS.TS Nguyễn Mạnh Tường như: Ý kiến của GS.VS Phạm Minh Hạc trao đổi cùng GS Phong Lê, ý kiến trao đổi của GS Đặng Thanh Lê…

Bà Thụy Khuê chắc chắn đã đọc bài viết của GS Phong Lê (Nguyễn Mạnh Tường - một chân dung và một hành trình như tôi hiểu), của GS Nguyễn Lân Dũng (GS Nguyễn Mạnh Tường - Nhà khoa học thông thái và yêu nước) trên trang mạng Vietstudies, nhưng trong phần nghiên cứu của mình bà cố tình lờ đi phần viết về "quãng đời sa mạc hơn 30 năm" của Nguyễn Mạnh Tường mà hai tác giả này đề cập.

Hội thảo khoa học Kỷ niệm 100 năm ngày sinh GS.TS Nguyễn Mạnh Tường (trường đại học Sư phạm, 24/12/2009).

2- Nhà nghiên cứu Thụy Khuê viết: "Lối viết đánh bóng, tô hồng này, tưởng đã chết, nhưng không, nó vẫn tồn tại, và đáng ngại là dưới ngòi bút của các giáo sư đại học, mà sự chính xác phải là châm ngôn giảng dạy:

Ví dụ, về việc Nguyễn Mạnh Tường gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh trong đại hội "Liên hoan anh hùng và chiến sĩ thi đua toàn quốc" năm 1952 ở Việt Bắc, nhà giáo nhân dân Nguyễn Đình Chú cam đoan rằng: "Riêng đối với giáo sư (NMT) đây là những giây phút (...) gắn bó thiêng liêng máu thịt giữa giáo sư với cách mạng, với lãnh tụ, đến mức cực độ".

Thưa bà Thụy Khuê. GS Nguyễn Đình Chú không hề "đánh bóng" hay "tô hồng", vì đây là trích đoạn trong Hồi ký (bản gốc tiếng Pháp hiện lưu tại gia đình) về cuộc gặp giữa GS.TS Nguyễn Mạnh Tường và Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội Anh hùng - Chiến sĩ Thi đua toàn quốc lần thứ nhất (5/1952) do ông Nguyễn Bá Bảo dịch:

"Hồ Chủ tịch hỏi tôi, Đại hội đã gây cho tôi cảm tưởng gì?

Tôi đã trả lời Người:

- Thưa Chủ tịch, một cảm tưởng mà tôi buộc phải coi là cực kỳ đặc biệt. Làm sao tôi có thể tưởng tượng cây Người có thể sản sinh ra những bông hoa tuyệt mỹ như vậy? Làm sao con người bằng xương bằng thịt có thể đạt tới đỉnh cao như vậy của chủ nghĩa anh hùng và lòng cao thượng?

Và khi trong mạch máu của họ chảy cùng một dòng máu đang chảy trong mạch máu của tôi, làm sao tôi có thể cưỡng lại niềm hào hứng và tự kiêu dồn dập trào tới tràn ngập lòng tôi, làm tôi ngạt thở, hòa loãng tâm hồn tôi trong một cơn say mà tôi chưa hề biết đến như vậy".

Còn trên Báo Cứu quốc, số ra ngày 16/5/1952, bài "Đại hội thi đua" của nhà báo Hồng Hà có một câu như sau: "Giữa khung cảnh tưng bừng của Đại hội, Giáo sư Nguyễn Mạnh Tường rất cảm động nói rằng ông đang được sống một khoảnh khắc lịch sử".

3- Phần viết "Làm luật sư trong kháng chiến", nhà nghiên cứu Thụy Khuê nêu câu hỏi: "Trong kháng chiến, ông (nguyễn Mạnh Tường) cãi ở tòa án nào? Và cãi cho ai? Một điều chắc chắn: ông cãi trong các tòa án Kháng chiến (tức là tòa án của Việt Minh). Vậy loại tòa án nào? Vì ở thời cải cách ruộng đất, ông cho biết các Tòa án Nhân dân không cần chánh án, không cần luật sư.

Chắt lọc một số thông tin đáng tin cậy, chúng ta có thể xác định: ông cãi ở những tòa án quân sự, đại hình, và được chính phủ kháng chiến cử làm luật sư chỉ định (avocat d'office)...".

Ở đây, bà Thụy Khuê lẫn lộn (hay cố tình đánh tráo khái niệm?), khi gộp "các tòa án Kháng chiến" với "thời cải cách ruộng đất". Trong kháng chiến, các vụ án khi được đưa ra tòa xét xử, đều có Chánh án, Hội thẩm nhân dân và luật sư bào chữa. Ngồi ghế Chánh án những năm kháng chiến, có thể nhắc đến các vị: Hồ Đắc Điềm, Chu Văn Tấn, Bùi Lâm, Lê Văn Chất, Nguyễn Xuân Linh…; luật sư bào chữa có thể kể đến các vị: Đỗ Xuân Sảng, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Ngọc Minh, Phạm Thành Vinh, Lưu Văn Đạt, Đặng Văn Doãn (hai ông Lưu Văn Đạt và Đặng Văn Doãn nay đều đã ngoài 90 tuổi, nghỉ hưu tại Hà Nội và còn rất minh mẫn)...

4- Về thời gian GS.TS Nguyễn Mạnh Tường chuyển từ công tác tư pháp (luật sư) sang công tác giáo dục (giáo sư), bà Thụy Khuê dẫn lại tư liệu và cho rằng: "Tới tháng 5/1951, ở Khu Tư (Thanh Hóa) ông cãi lần cuối cùng tại Đức Thọ, Hà Tĩnh. "Tháng 2/1952, Trường Dự bị Đại học mới mở ở khu Tư, Thanh Hóa và Nghệ An, do nhà phê bình mác xít Đặng Thai Mai điều khiển, Nguyễn Mạnh Tường được gọi về dạy văn chương"(Boudarel)".

Sự thật, khi đang là giáo sư giảng dạy tại Trường Bưởi, GS.TS Nguyễn Mạnh Tường từ chối yêu cầu ông tham gia vào công việc tuyên truyền trong nhân dân bán thóc cho phát xít Nhật, lấy cớ là giáo sư chỉ dạy học chứ không phải đi tuyên truyền cho ai cả. Thái độ cương trực của ông làm cho cả Pháp và Nhật đều tìm cách trả thù: "Chúng cử một tên Thanh tra Thạc sĩ Trung học đến lớp tôi dạy để đả kích. Tôi phản kháng: Tôi là Tiến sĩ, Giáo sư Đại học, không để một tên Thạc sĩ Trung học đến quấy nhiễu. Rồi tôi lập tức nộp đơn xin từ chức và ra khỏi giáo giới...

Đấy số kiếp người trí thức mất nước là vậy đó!" (trích Hồi ký của GS.TS Nguyễn Mạnh Tường, bản lưu tại gia đình).

GS.TS Nguyễn Mạnh Tường đã từ bỏ nghề dạy học, để mở văn phòng luật sư riêng tại 77 phố Gambetta (nay là phố Trần Hưng Đạo - Hà Nội).

5. Ở phần viết về giáo dục, bà Thụy Khuê dẫn lại Hoàng Trung Thông: "Các lớp học viết văn thì tổ chức ở Quần Tín (Thanh Hóa), Đặng Thai Mai là hiệu trưởng, Nguyễn Xuân Sanh phụ trách các công việc, tương đương với giáo vụ bây giờ. Khóa dự bị đại học đầu tiên có 5 học sinh. Các lớp sau đông hơn (...) Học sinh tới học do địa phương giới thiệu nhưng kinh phí hầu như phải tự túc hoàn toàn" (bài "Trên địa bàn văn nghệ khu Bốn và Việt Bắc, Cách mạng kháng chiến và đời sống văn học", tập 1, Tác phẩm mới, 1985, trang 184).

Đây là bài viết do nhà thơ Hoàng Trung Thông kể, Tôn Lan Phương ghi, mà có thể bà Thụy Khuê đã nhầm lẫn về Dự bị đại học. Đó là các lớp bồi dưỡng văn nghệ (được tổ chức trong ba năm 1948 - 1949 - 1950) thì chính xác hơn (mà giảng viên - phụ trách giáo vụ nay còn Nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh. Học viên các lớp đó đến nay ở Hà Nội vẫn còn nhiều người như ông Nguyễn Mạnh Cầm - nguyên Ủy viên Bộ chính trị, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; ông Vũ Tú Nam - nguyên Tổng Thư ký Hội Nhà văn Việt Nam; bà Thanh Hương - nguyên Tổng biên tập báo Phụ nữ Việt Nam; ông Hoàng Minh Châu - nguyên Phó Tổng biên tập báo Văn nghệ...). Còn Trường Dự bị Đại học, được thành lập theo Nghị định số 277 ngày 11/10/1951, số học sinh không phải chỉ có 5 người, mà đông hơn nhiều. Trường khai giảng vào tháng 2/1952. Giảng dạy tại trường được khoảng một tháng, GS.TS Nguyễn Mạnh Tường lên đường ra Việt Bắc, tham dự Đại hội Anh hùng - Chiến sĩ Thi đua toàn quốc lần thứ nhất (5-1952). Trên đường ra Việt Bắc, ông mang theo lá thư của Trường Dự bị Đại học gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhận được thư, vào tháng 4/1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư trả lời: "Gửi các thầy giáo và các cháu học sinh Trường Dự bị Đại học ở Thanh Hóa. Cảm ơn các bạn đã gửi thư thăm tôi, do Giáo sư Nguyễn Mạnh Tường chuyển".

Kết thúc Đại hội Anh hùng - Chiến sĩ Thi đua toàn quốc lần thứ nhất, GS.TS Nguyễn Mạnh Tường tham gia phái đoàn ngoại giao lên đường dự Hội nghị Hòa bình châu Á - Thái Bình Dương tại Bắc Kinh - Trung Quốc (1952) và ba tháng sau đi dự Đại hội Hòa Bình Thế giới ở Vienne - Áo (1953).

Với một hành trình khoảng hơn một năm là thành viên tham gia các hoạt động đối ngoại trên trường quốc tế, GS.TS Nguyễn Mạnh Tường không tham gia hoạt động bào chữa cho các vụ án trong nước, đó là điều dễ hiểu.

Hà Nội, ngày 24/10/2011

Kiều Mai Sơn
.
.
.