Bàn về dấu chính tả trong thơ
Thực ra thì câu chuyện này tồn tại từ hàng trăm năm rồi, nhưng ngỡ như không thể bàn luận, bởi đấy là quyền tự do sáng tạo của mỗi cây bút, mỗi nhà thơ. Thế nhưng mấy chục năm gần đây, trong phong trào thơ phát triển ồ ạt, liên kết xuất bản phóng túng và rộng rãi, thấy quá nhiều tác giả lạm dụng quyền tự do chính tả trên ô giấy của mình, gây phản cảm cho người đọc.
Tôi có một anh bạn mới cho in tập thơ đầu tay, trong đó có bài thơ “Khóc cha”. Anh viết: Cha ơi!!! Sao nỡ bỏ con?/ Bây giờ con biết vuông tròn với ai?. Người ta nói, thơ bầu bạn quí ở tâm sự, thơ trai gái quí ở sự hào hoa, thơ điếu phúng quý ở sự thành thực. Tôi tin những câu thơ điếu của bạn là thật. Tuy nhiên, một cái chấm than là đủ, ba cái chấm than là quá. Dòng thứ nhất là câu than chứ không phải câu hỏi, phải bỏ dấu hỏi đi.
Một trường hợp khác, nhà thơ N. viết: Kẽo kẹt… kẽo… kẹt võng đưa. Tôi hiểu dụng ý của tác giả muốn dùng tiếng tượng thanh để tả cho đúng, bắt người nghe nghe cho được tiếng võng. Nhưng những dấu ba chấm của anh chỉ gây rối mắt. Ở đây, tôi xin nói ngay rằng, với dân tộc nào cũng vậy, tiếng tượng thanh chỉ mô tả được cái na ná như âm thanh có thực, chứ làm sao thực được. Chẳng hạn, tiếng sóng vỗ vào bờ ở chỗ không bằng phẳng người ta ghi là vỗ ì oạp. Tiếng oạp thì hơi giống, nhưng tiếng ì, e chỉ là tiếng đệm thôi.
Một bạn thơ khác, anh C.N trong bài thơ bốn câu, viết: Mây xanh, mờ núi, vút thông reo/ Vạn Kiếp, Côn Sơn, dậy hịch truyền/ Ức Trai, chí dũng, ngàn năm tuổi/ Thế núi, rồng chầu, một cõi tiên. Chỉ có bốn dòng mà anh tốn đến tám dấu phẩy. Có cần thiết như thế hay không? Hiệu quả của các dấu phảy ấy là gì? Nếu bỏ đi có hại gì cho ngữ nghĩa, cho âm thanh bài thơ?
Và một câu hỏi tổng quát: Có lý luận chung cho việc sử dụng dấu chính tả trong thơ Việt
Chúng ta hãy nhìn lại lịch sử phát triển của thể loại. Thơ tự do mới có ở ta chưa đầy một thế kỷ. Thơ văn xuôi còn mới mẻ hơn. Thơ ca ta hàng nghìn năm là các thể thơ ổn định. Tựu trung lại thì có hai loại: các thể thơ truyền thống chẵn chữ: 4 chữ (thực phải gọi là âm), thơ 6 chữ (các cụ gọi là lục ngôn), lục bát. Đến đầu thế kỷ XX thì thêm thơ 8 chữ (từ chỗ cải tiến các câu hát bỏ bộ và hát ca trù). Loại thứ hai là các thể thơ lẻ chữ xuất phát từ thơ Đường (ngũ ngôn, thất ngôn bát cú, thất ngôn trường thiên). Các thể thơ ấy dường như không dùng đến dấu phảy, dấu chấm câu. Các dấu chính tả khác cũng rất ít được dùng. Lý do nằm ở nhịp thơ sẵn có trong thể loại. Nhịp thơ là tiết tấu ngừng hơi (lặp đi lặp lại) trong nội bộ một câu thơ và giữa các câu thơ.
Các nhà thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh… và các nhà thơ thời kỳ Thơ Mới rất ít dùng dấu chấm, dấu phẩy là bởi họ nắm rất vững tiết tấu, âm luật của thơ truyền thống.
Trở lại với dấu hỏi (?) và dấu chấm than (!). Mở tập thơ “Buổi sáng cho em” do một nhà xuất bản ở Hà Nội mới ấn hành, tôi bắt gặp hai dòng thơ sau đây: Con sông đang chảy về đâu?/ Mà em ngồi đó buồn rầu thế em. Câu thơ có ý. Giá như dòng nước ngừng lại, đằng này sông cứ trôi đi làm tăng thêm sự cô đơn của cô gái. Nhưng ở dòng thứ nhất là câu hỏi vu vơ. Các nhà ngôn ngữ gọi là câu hỏi phiếm chỉ, không có đối tượng để hỏi, không bắt ai phải trả lời. Đã thế thì phải bỏ dấu hỏi đi. Đừng bắt bạn đọc hiện trong đầu câu trả lời lẩm cẩm: nó trôi về biển chứ trôi về đâu nữa! Dấu hỏi ấy làm gián đoạn cảm xúc của người đọc.
Cũng tương tự như câu hỏi phiếm chỉ, trong thơ còn có câu hô phiếm chỉ, câu ứng phiếm chỉ. Bạn N.V.P trong bài thơ “Trở lại sông Thao” viết: Ơi quê hương hôm nay ta trở lại/ Rặng tre không còn soi bóng xuống lòng sông. Tiếng ơi ở dòng thơ trên tương đương với tiếng ôi. Tác giả chỉ thốt lên, kêu lên vậy thôi chứ không định gọi vào đối tượng nào. Để dấu chấm than sau âm đầu làm câu thơ bị giật cục, mạch thơ dãn.
Nói một cách bao quát thì ngữ pháp thơ cũng có khác chút ít với ngữ pháp nói chung và dấu chính tả trong thơ cũng có phần khác biệt với dấu chính tả trong văn xuôi. Đặc điểm nổi bật của dấu chính tả trong thơ là tính áp đặt của người viết đối với người đọc (bắt người ta phải ngừng hơi, bắt người ta phải kéo dài giọng, bắt người ta phải vui, phải buồn, phải hô, phải la… cùng mình). Thế mà thơ lại cần sự đồng thuận, đồng cảm giữa người viết và người đọc. Và nếu đúng thế thì các nhà thơ khi sử dụng dấu chính tả phải e dè, phải cẩn trọng lắm mới phải
