Bài thơ cứu mạng
Bài thơ của cụ Cử Bùi mang ý nghĩa cổ xuý phong trào Cần Vương, chống giặc Pháp nhưng Trần Bá Lộc cứ tưởng thơ ca tụng mình là con chim hồng nên đã tha tội chết cho cụ Cử Bùi.
Cụ Bùi Tuyển (1861-1914) người làng Bả Canh, tổng An Ngãi (Nghĩa), huyện Tuy Viễn (nay là khu vực Bả Cảnh, thị trấn Đập Đá, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định). Cụ Bùi đỗ á nguyên cử nhân khoa Nhâm Ngọ (1882) năm Tự Đức thứ 35, tại trường thi Bình Định.
Theo tài liệu của Trần Bùi Thao, cháu ngoại Bùi công: Các quyển thi của thí sinh trường Bình Định khoa ấy đều đệ về kinh để vua ngự lãm. Quyển thi của Bùi công được châu phê: “Bùi Tuyển kinh nghĩa quán Nam Bắc Hà” (bài thi của Bùi Tuyển về sách kinh nghĩa hơn hẳn phía
Hưởng ứng hịch Cần vương của vua Hàm Nghi, cụ Cử Bùi Tuyển được Bình Tây nguyên soái Mai Xuân Thưởng trao giữ chức Tán quân vụ hoạt động tại huyện An Nhơn. Tiểu phủ sứ Trần Bá Lộc được súy phủ Pháp ở Nam Kỳ điều động ra Bình Định đánh dẹp. Nghĩa quân thất trận, quân địch truy kích, ông bị bắt giải về thành Bình Định cùng 12 người nữa, rồi bị kết án tử hình, chuẩn bị xử chém tại Gò Chàm, Bình Định. (Trích tiểu sử cụ Bùi Tuyển của Trần Bùi Thao).
Cũng theo tài liệu trên, trong lúc bọn thủ hạ của Trần Bá Lộc đang trói tay, bịt mắt Bùi công và 12 nghĩa quân khác cột vào các cọc gỗ đóng sẵn chờ đến giờ hành quyết thì xảy ra một chuyện bất ngờ: có lệnh truyền cởi trói cho Bùi công. Hóa ra ngồi ở hàng ghế giám sát ngoài Trần Bá Lộc còn có Phạm Phú Lâm (dòng dõi của Phạm Phú Thứ người Quảng
- Ngày trước ông từng được tiên đế khen, nên nay tuy phạm tội còn có điều châm chước. Vậy ông hãy làm một bài thơ tám câu bảy chữ, đứng hàng đầu mỗi câu phải có các chữ: Bình Định Tuy Viễn An Ngãi (Nghĩa) Bả Canh là những chữ thuộc địa danh quê hương ông. Trong thời gian cháy hết điếu thuốc lá ta hút mà làm không xong thì tội chết vẫn giữ nguyên.
Điếu thuốc của Trần Bá Lộc đang hút còn đến gần một nửa mới tàn, bài thơ ứng khẩu của cụ cử Bùi Tuyển đã xong. Thơ rằng:
Bình tích tao phùng cái hữu duyên
Định tùng gia ngẫu nhận chơn thuyên
Tuy tuy hồ ẩn Tượng sơn ngoại
Viễn viễn hồng phi Ngưu chử biên
An lạc vị châu tam thuộc địa
Ngãi tâm do đới cửu trùng thiên
Bả khan đương thế anh hùng cuộc
Canh điếu tranh cao đài các tiên.
Câu thơ mở đầu: “Bình tích tao phùng cái hữu duyên”. Nghĩa là “Thuở xưa các cuộc giao tiếp với khách của ông Bình Nguyên đều có duyên cớ”. Sách xưa chép rằng: Bình Nguyên Quân tên thật là Thắng, người đời Chiến quốc, con vua nước Triệu, em vua Huệ Văn đế, được phong ở đất Bình Nguyên nên có tên gọi là Bình Nguyên Quân.
Vốn người hào hiệp, môn khách đến với ông thường ngày trong nhà có đến mấy ngàn người. Vậy tôi không nhầm thì chiều sâu của câu thơ đầu tác giả muốn nói rằng: Tôi đang bị trói tay, bịt mắt, chuẩn bị lên cõi tiên, vậy mà bất ngờ nhận được sự hào hiệp này ắt hẳn có lý do gì đây?
Câu 3 và câu 4 có nghĩa là “Con chồn náu mình bên ngoài rừng núi Voi đang yên ổn thì con chim hồng đang từ Bến Nghé xa xăm bay đến”, nghĩa đen là vậy. Phải chăng tác giả còn có ý chơi chữ rằng: dẫu là phận con chồn nhưng là giống chồn ở rừng núi Voi (tức nguồn An Tượng tỉnh Bình Định), còn dù thân chim hồng, nhưng là giống chim ở Bến Nghé, bến trâu bò nằm. Hoặc chúng ta có thể hiểu một khía cạnh khác: Dân chúng ở nguồn An Tượng đang yên ổn thì con chim dữ từ Bến Nghé đến sát hại.
Đến hai câu tiếp theo thì tác giả nói toạc móng heo rằng: “Khắp ba miền đất nước này còn chưa yên vui thì lòng thờ vua còn tiếp tục” (Có nghĩa là phong trào Cần vương chống pháp còn tiếp tục). Và “Những con người, những đấng anh hùng đứng lên làm việc này là những người cày, những ông câu, họ tự nguyện liều chết mà làm chứ không hề sợ chết đâu” (hai câu kết bài).
Đọc xong bài thơ, Bùi công nghĩ: May có dịp được nói, những gì cần phải nói thì đã nói được rồi, bây giờ phải trở lại chỗ cái cọc đã chờ sẵn để mà chết cũng thỏa lòng. Nào ngờ Trần Bá Lộc cứ tưởng thơ ca tụng mình là con chim hồng; Phạm Phú Lâm đại diện cho phía
