Huyền thoại nữ tướng Nguyễn Thị Định (Tiếp theo kỳ trước)

Thứ Ba, 17/04/2007, 09:30
Trang phục mà nữ tướng thường mặc vẫn là bộ quần áo bà ba đen, đôi khi màu cỏ úa, màu kem nhạt; khăn rằn quấn cổ, nón lá, đi dép râu, vai đeo túi để sẵn sàng lấy ra cây kim, sợi chỉ vá áo cho bộ đội, lấy ra miếng sừng tê giác khi có ai đó bị rắn cắn; lấy viên thuốc, miếng đường cho chiến sĩ nào đó lên cơn sốt... 

Kỳ 3: Những tháng năm làm tướng

Ngày 2/9/1960, trong chuyến công tác, tranh thủ thời khắc yên tĩnh hiếm hoi, bà Nguyễn Thị Định viết cho con trai lá thư chan chứa tình yêu thương người mẹ.

Bà không khỏi xốn xang khi 6 năm xa cách mà bà chỉ một lần nhận được thư con. Bức ảnh của anh On gửi về đủ làm lòng người mẹ vui sướng, tự hào.

Vừa gửi xong lá thư, trở về Cơ quan Tỉnh ủy thì nhận được bức điện “Cháu On con chị Ba, bị bệnh mất ngày 4-5-1960”. Bà bàng hoàng, sửng sốt, thấy trời đất quay cuồng. Bà cố không để mình ngất xỉu trước mặt đồng chí nhưng trái tim như có bàn tay ai bóp nghẹt. Với bà, On là tình yêu, là tất cả niềm hy vọng.

Tất cả đồng chí của bà hôm ấy đều im lặng, bởi họ biết bất cứ lời an ủi nào cũng vô nghĩa trước nỗi đau của người mẹ. Người chỉ huy lau nước mắt, nén lại nỗi đau, tiếp tục bước vào cuộc chiến đấu quyết liệt...

Tháng 5/1961, bà được bầu vào Khu ủy viên Khu 8, Bí thư Đảng đoàn Phụ nữ Khu 8. Năm 1965, bà là Hội trưởng Hội Liên hiệp phụ nữ (LHPN) Giải phóng miền Nam.

Cũng trong năm 1965, giữa lúc đang công tác ở Cơ quan Hội phụ nữ, bà được Đại tướng Nguyễn Chí Thanh mời sang gặp Bộ Tư lệnh Miền, giao nhiệm vụ: “Bác Hồ và Bộ Chính trị quyết định rút chị lên làm Phó Tư lệnh Các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam. Ngoài công tác chung, Bộ Tư lệnh phân công chị theo dõi chỉ đạo phong trào chiến tranh du kích, đấu tranh chính trị”.

Bà ngỡ ngàng trước trọng trách được giao, vừa thấy tự hào, vừa lo lắng.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh nói: “Cuộc chiến tranh nhân dân của ta là cuộc chiến tranh không có trận tuyến, phải đánh giặc bằng quân sự và bằng chính trị. Do nhu cầu của chiến lược, Bộ Tư lệnh Miền phải có một đồng chí biết rành về chỉ huy lực lượng đấu tranh chính trị trực diện. Chị cứ mạnh dạn nhận nhiệm vụ, cần gì chúng tôi sẽ hỗ trợ”.

Bà thao thức suốt mấy đêm không ngủ. Bà tự nhủ đã nhận nhiệm vụ thì phải ráng hết sức, phải học, vừa làm vừa học. Bà  chợt nhớ lời dạy của Bác Hồ cách đó 20 năm, trong chuyến ra miền Bắc xin Trung ương hỗ trợ vũ khí đánh Pháp. Với tinh thần nghiêm túc, giữa rừng sâu, bà lao vào học lý luận, nghiên cứu khoa học quân sự.

Sự có mặt của Phó Tư lệnh Nguyễn Thị Định trong Bộ Tư lệnh Miền đã góp phần làm cho cái nhìn của lãnh đạo, chỉ huy toàn diện, thấu đáo hơn từ cuộc chiến tranh nhân dân.

Hãy nghe Thượng tướng Trần Văn Trà nói về nữ tướng Nguyễn Thị Định: “Sự thực là có chị Ba Định ở Bộ Tư lệnh, nhiều việc cụ thể ở chiến trường đã được làm sáng tỏ. Dưới sự chỉ đạo của anh Nguyễn Chí Thanh ở cương vị Chính ủy, chúng tôi được phân công giúp chị nắm những vấn đề cơ bản về chỉ huy và công tác tham mưu quân đội, cũng như công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang, đồng thời chúng tôi cũng học tập được ở chị nhiều kinh nghiệm quý báu trong lãnh đạo đấu tranh chính trị và trong công tác xây dựng phong trào quần chúng.

Chúng tôi không khỏi ngạc nhiên về sự thông minh và hiểu biết nhanh chóng của chị về các vấn đề quân sự. Chỉ sau một thời gian không dài, chị đã có nhiều ý kiến đóng góp có giá trị trong việc chỉ huy lực lượng tổng hợp trên chiến trường.

Trong công tác, chị bộc lộ khá rõ sự năng động và tinh thần tích cực, hết mình trong mọi việc. Chị hầu như có mặt trong tất cả các cuộc hội nghị tổng kết về chiến tranh du kích, trong Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua của Miền. Chị đi thăm các sư đoàn, trung đoàn chủ lực, các đơn vị binh chủng không chỉ ở nơi đóng quân mà còn ở mặt trận. Chị quan tâm cụ thể đến việc tổ chức, huấn luyện, tác chiến và cả việc ăn ở, giải trí của chiến sĩ.

Anh em tiếp đón chị với cương vị người chỉ huy, đồng thời như người chị cả thân thương, họ thường gọi chị  bằng cái tên “Chị Ba” trìu mến. Anh Nguyễn Chí Thanh có lần nói vui với chị là “Chúng tôi ghen với chị về lòng thương yêu, quý mến của cán bộ, chiến sĩ đối với chị đấy...”.

Đọng lại trong ký ức Thiếu tướng Bùi Cát Vũ là chân dung một nữ tướng thật đẹp: "Bước vào lán của chị Ba, cái đập vào mắt trước tiên là tấm bản đồ không ảnh toàn miền Nam bằng lụa treo trên vách. Kế đó là chồng sách quân sự. Trên bàn làm việc của chị lúc nào cũng có một quyển đang xem dở. Chị nghiên cứu, chị học ngày, học đêm chiến thuật chiến tranh hiện đại. Nhớ hôm địch tấn công vào căn cứ, Bộ Tư lệnh phải di chuyển đến nơi an toàn, mỗi người ở cách xa nhau trong cự ly một quả bom đìa để hạn chế bom sát thương một lúc hai người. Bên bờ suối hoang vắng, chị vẫn đọc sách...”.

Và ông đã đánh giá về tài năng quân sự của vị nữ Phó Tư lệnh: “Tôi mời chị đi xem đơn vị diễn tập, chị vui vẻ nhận lời, và tôi đã tổ chức bảo vệ chị đi chu đáo. Chị tham quan diễn tập với cặp mắt và bộ óc của người chỉ huy binh chủng hợp thành. Chị chỉ ra những chỗ cần phải suy nghĩ thêm, khi chiến đấu ở đồng bằng với điều kiện địch chiếm ưu thế tuyệt đối về không quân, pháo binh, xe thiết giáp, đổ bộ trực thăng. Phải công nhận rằng, với bề dày kinh nghiệm lăn lộn đấu tranh nhiều năm qua, chị biết địch biết ta, am hiểu thời tiết, địa hình, chị tiếp thu nghệ thuật tác chiến hiện đại khá nhanh với nhiều hứa hẹn sáng tạo...”.

Bà Nguyễn Thị Định thường không mặc quân phục, không mang quân hàm dù phòng quân trang đo may cho bà những bộ quân phục rất đẹp để tiếp khách quốc tế (trong vùng căn cứ, thỉnh thoảng cũng có đoàn khách nước ngoài, nhà báo, nhà văn... đến thăm, bày tỏ lòng ngưỡng mộ và chia sẻ khó khăn với Trung ương Cục trong kháng chiến chống Mỹ).

Trang phục mà nữ tướng thường mặc vẫn là bộ quần áo bà ba đen, đôi khi màu cỏ úa, màu kem nhạt; khăn rằn quấn cổ, nón lá, đi dép râu, vai đeo túi để sẵn sàng lấy ra cây kim, sợi chỉ vá áo cho bộ đội, lấy ra miếng sừng tê giác khi có ai đó bị rắn cắn; lấy viên thuốc, miếng đường cho chiến sĩ nào đó lên cơn sốt... 

Nơi nào có “chị Ba”, nơi đó cuộc sống của cán bộ, chiến sĩ được cải thiện. Trong rừng sâu, bà biết cách chế biến bột mì thành món bánh bao tuyệt hảo. Bà đồng cam cộng khổ với chiến sĩ, tập đi xe đạp băng qua đường rừng dài hun hút để ra mặt trận...

Bà Nguyễn Thị Định vá áo cho chiến sĩ trong chiến khu đông nam bộ năm 1968

Sau này, được  gặp  các nữ chiến sĩ của “chị Ba” bằng xương bằng thịt, tôi càng cảm nhận sâu sắc hơn về những dòng khắc họa cốt cách vị nữ tướng.

Nếu không có tình thương sâu thẳm, không có cái nhìn thấu đáo, khi nghe thành tích đặc biệt của nữ du kích Võ Thị Mô, dù hết lời khen ngợi sự dũng cảm của chị nhưng bà cũng phân tích, đưa ra lời khuyên chí tình: “Nữ không nên đánh công đồn, bởi công đồn không hợp với sức khỏe phụ nữ, do mỗi lần vô đồn phải vác mìn DH.10 nặng 15 ký, vác khẩu AK cùng 6 băng đạn, một số lựu đạn. Những cuộc hành quân chiến đấu gian khổ không hợp với chị em. Chị em chỉ nên đánh gọn, đánh nhỏ và nắm tình hình, làm trinh sát, báo tin cho lực lượng ta tấn công địch. Ở vùng giải phóng, địch ném bom, bắn pháo dữ dội, sinh hoạt ăn uống thiếu thốn, nên chị em rất vất vả. Vì vậy, chỉ nên xây dựng lực lượng nữ du kích ở xã, huyện, không nên tổ chức ở tỉnh. Và cần phải tổ chức các đơn vị nữ xen kẽ với các đơn vị nam để hiệp đồng chiến đấu, hỗ trợ nhau”.

Vì thương mà khuyên vậy nhưng “lính chị Ba Định” có mặt khắp mọi chiến trường, có mặt ở khắp các binh chủng, không chỉ có những nữ du kích gan dạ, dũng cảm mà còn có những tay súng cừ khôi, có cả nữ pháo binh giỏi, tình báo, biệt động...

Chưa có thời kỳ nào nở rộ những bông hoa đánh Mỹ như thời bà Định làm Phó Tư lệnh. Chức vụ xã đội, huyện  đội, tỉnh đội không ít phụ nữ đảm nhiệm.

Chị Võ Thị Mô nói: “Nếu không có cô Ba Định, chắc tôi không còn tới giờ. Sau Mậu Thân, cô Ba rút tôi lên R. vì  biết nếu ở lại Củ Chi, với mức độ khủng bố dữ dội của địch, với sự bướng bỉnh, gan lì đánh giặc kiểu chị em du kích chúng tôi thời chiến tranh cục bộ, thế nào tôi cũng hy sinh.

Nếu không có cái nhìn thấu đáo, bà đã không bảo vệ được cho Thu Hà - một chỉ huy du kích dũng cảm, thành lập Tiểu đội Thu Hà đánh giặc ở Bến Tre. Trong một chuyến đi công tác, Thu Hà bị phục kích, rơi vào tay giặc.

Tin Thu Hà “chiêu hồi”, nhận làm tay sai cho địch để dò xét chị em bay qua tường vách nhà giam, đến tai người chỉ huy. Bà khuyên mọi người hãy bình tĩnh, và nói rõ: “Con nhỏ đó rất dũng cảm và gan góc. Chính tôi khi làm Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre, đã chọn gởi nó đi học khóa đào tạo cán bộ khung đại đội. Tôi hiểu khá sâu về nó. Tôi không tin nó có thể đầu hàng địch một cách dễ dàng. Cần phải kiểm chứng lại cho chắc chắn, trước khi nói rộng ra...”.

Nhờ thái độ thận trọng trước sinh mệnh chính trị của một cán bộ mà sau đó, Thu Hà được minh oan, được giải tỏa. Năm 1973, khi được trao trả tại Lộc Ninh, Thu Hà gục vào ngực “chị Ba” òa khóc nức nở.

Rất nhiều chiến sĩ của “chị Ba” sau này nhớ lại, bị vây bủa giữa bộn bề công việc, phải căng đầu óc ra đối phó trước kẻ thù đông và mạnh gấp nhiều lần nhưng bà đã thấu đáo đến từng chiến sĩ ở những ngóc ngách đời sống tưởng như bé nhỏ nhất.

Bà tạo mọi điều kiện cho những cán bộ, chiến sĩ do mải mê chiến đấu chưa lập được gia đình tìm hiểu bạn đời, làm lễ cưới, chia sẻ những tiêu chuẩn ở rừng vốn ít ỏi cho những đứa bé trong rừng sâu.

Bà gửi cơ sở mua cây đàn ghita hiệu Yamaha tận Phnômpênh tặng cho Đoàn Văn công Đồng Tháp. Trong hoàn cảnh chiến tranh có được cây đàn ấy là một nhạc cụ, càng quý hơn là tấm lòng, là sự quan tâm đến những người làm văn nghệ kháng chiến của vị nữ Phó Tư lệnh Miền...

Nếu có ai đó còn hoài nghi về tài năng cầm quân của bà Nguyễn Thị Định thì xin tìm hiểu về trận càn Johnson City.

Đó là trận càn lớn nhất của Mỹ - ngụy vào tháng 2/1967, huy động 7 lữ đoàn Mỹ, 2 chiến đoàn ngụy gồm 50.000 tên, 1.100 xe tăng, toàn bộ máy bay nhằm xóa sạch căn cứ Trung ương Cục miền Nam.

Bộ Tư lệnh họp, quyết định bằng mọi giá phải bảo vệ vùng căn cứ; chuyển thế bị động sang chủ động tấn công địch. Bộ Tư lệnh phân công bà Nguyễn Thị Định chỉ đạo các đơn vị văn công, tuyên huấn, du kích các cơ quan, đoàn thể tham gia đánh địch.

Bà họp toàn thể anh chị em nói: “Mình có ít người, ít vũ khí, phải chia thành từng tổ nhỏ, đào công sự thật chắc, đón hướng đi của địch, đánh cho chúng những đòn bất ngờ, làm chúng nghi là có quân chủ lực đánh”.

Cuộc chống càn đã diễn ra đúng như kế hoạch đã chuẩn bị. Suốt 2 ngày đêm, quân ta bẻ gãy cánh quân chủ yếu của địch. Địch lại mở trận tấn công đợt 2. Dưới hầm, bà vẫn bình tĩnh chỉ huy trận đánh.

Bốn giờ chiều, Bộ Tư lệnh nhận được tin du kích khối cơ quan do “chị Ba” chỉ huy đã bắn cháy một số xe tăng địch. Sau những ngày bị du kích đánh cho mệt mỏi, rã rời, địch phải co cụm lại một nơi. Lúc ấy, các đơn vị chủ lực của ta đánh thẳng vào những cụm đóng quân của địch, diệt được nhiều xe tăng,  máy bay.

Trận càn Johnson City địch thất bại thảm hại. Rừng Tây Ninh vang tiếng hát chiến thắng, bà Nguyễn Thị Định được cán bộ chiến sĩ rất khâm phục. Sau đó, bà lại trở về với vai trò người mẹ, người chị, lo nấu một bữa ngon lành đãi các chiến sĩ bằng những chiến lợi phẩm mà họ thu được...

Trong đợt Tổng tấn công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968, bà Nguyễn Thị Định được Bộ Tư lệnh phân công đi chỉ đạo tỉnh Tây Ninh. Người nữ tướng ấy đội chiếc bọc vải dù, khoác mảnh vải dù ngụy trang, cùng các chiến sĩ đạp xe lên đường.

Dốc cao, bị một khúc cây ngáng ngang đường, xe mất đà, đổ ập xuống. Chân bị thương nặng nhưng bà vẫn  tiếp tục lên đường, bởi bà đang cầm trong tay lệnh truyền đạt nghị quyết.

Quên cả đau, bà cùng đoàn đi bộ suốt đêm không nghỉ. Đến nơi - bà bình tĩnh trụ lại căn nhà hầm gần Tỉnh đội để phổ biến nghị quyết của Trung ương, kế hoạch của Bộ Tư lệnh Miền, nhấn mạnh tình hình khó khăn của Tây Ninh. Tại đây địch lập các ấp chiến lược trong đó có bọn tay sai đội lốt tôn giáo, lôi kéo nhân dân.

Bà chỉ đạo đưa cán bộ nữ vào ấp chiến lược, xây dựng cơ sở, để khi anh em tấn công có chỗ ém quân, xây dựng lực lượng tự vệ mật tại chỗ, tranh thủ các tín đồ, tích cực làm công tác binh vận để làm tan rã quân Cao Đài do ngụy xây dựng, cô lập chức sắc ác ôn.

Bà nhấn mạnh: “Chúng ta không được quên hai vấn đề bí mật và bất ngờ. Trong lúc bộ đội ta đánh vào  thành phố lớn, các đồng chí phải  tranh thủ cơ hội đánh lớn bằng 3 thứ quân bao vây bức hàng, bức rút, mở rộng vùng căn cứ...”.

                             (Xem tiếp ANTG số 645, thứ Bảy, ra ngày 14-4-2007)

Trầm Hương
.
.
.