Chuyện về nữ anh hùng biệt danh "Năm Mập"

Thứ Hai, 20/08/2007, 12:00
Kỳ II: Chặng đường sau giải phóng

(Tiếp theo và hết)

Ba tháng sau, địch đưa Năm Thu về Trại cải huấn Thủ Đức. Toàn thân bị thương nặng, bà không thể lê bước nổi. Đôi mắt không nhìn rõ được bởi trong những lần tra tấn, địch đã dùng bóng điện công suất lớn rọi thẳng vào mắt bà.

Đầu năm 1972, địch đưa Bảy Hoàng cùng những người do Bảy Hoàng khai ra xử ở tòa quân sự mặt trận. Chúng đưa bà đến tòa nhưng không khai thác được gì về sự “liên quan” với Bảy Hoàng nên đưa bà trở về Thủ Đức.

Hai tuần sau, chúng xử bà với tội danh “gây rối trị an” và tuyên án 1 năm tù treo nhưng bà đã ở tù được 2 năm. Một thời gian ngắn sau, chúng xử bà thêm tội danh “dùng căn cước giả” với mức án... 3 tháng. Khi ra tù, bà về lại nhà chị Luyến ở Thuận Kiều.

Trước khi bị bắt, Năm Thu đã có chồng, con. Chồng bà là cán bộ an ninh, cưới nhau từ cuối năm 1963 và đến năm 1965 thì sinh người con trai đầu.

Tháng 8/1968, ông bị địch bắt và bị đày ra Phú Quốc, khi đó ông là Trưởng ban An ninh Dĩ An (Biên Hòa). Để đi hoạt động, Năm Thu gửi đứa con nhỏ cho mẹ. Ra tù, tin tức về chồng vẫn bằn bặt. Nhiều người đồn ngược, đồn xuôi là ông đã hy sinh. Có người khuyên bà đằng nào chồng cũng đã không còn, tuổi còn trẻ cứ đi bước nữa cho đỡ cực thân. Bà từ chối vì vẫn luôn tin rằng chồng mình còn sống.

Rồi có một người bà con, bạn tù với chồng bà cho hay rằng, ông vẫn còn sống. Dù đôi lúc vẫn nghĩ, có thể không lâu sau địch sẽ giết chồng mình, nhưng bà hiểu, chồng bà là một người can trường, dù có gì xảy ra thì ông vẫn luôn giữ được khí tiết. Và một điều bà tin chắc chắn, là vợ chồng sẽ gặp nhau trong ngày chiến thắng.

Năm 1973, ông được trao trả ở sông Thạch Hãn (Quảng Trị). Ông trở về với một cơ thể thương tật và đôi mắt bị mù bởi tra tấn cực hình của kẻ thù. Thay vì vào lại Sài Gòn để đoàn tụ gia đình, ông được ra Bắc an dưỡng. Cái quan trọng là ông vẫn còn sống, bà nghĩ vậy, và như một động lực tinh thần để bà tiếp tục hoạt động.

Đầu năm 1973, bà về lại căn cứ tại Củ Chi để báo cáo tình hình hoạt động trước tổ chức. Đầu năm 1974, bà được cử đi học lớp chính trị ngắn hạn tại Dầu Tiếng, về tiếp tục móc nối cơ sở để hoạt động.

Cuối năm đó, căn cứ ANT4 chuyển về Long Khánh, Năm Thu cùng anh em được giao nhiệm vụ tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, tiếp quản Sài Gòn. Nhưng trước đêm chuẩn bị tham gia chiến dịch bà ngã bệnh do vết thương tái phát.

Năm 1975, bà được cùng đoàn cán bộ an ninh ra Bắc, đi thăm Lăng Bác nhân dịp khánh thành. Lần đi này, bà ghé về khu điều dưỡng để thăm ông. Thời gian trước đó, dù phải đi xây dựng cơ sở nhưng bà vẫn dành thời gian để viết thư động viên chồng. Còn ông thì không thể biên thư trả lời vợ, bởi những vết thương quá nặng..

Bà chuẩn bị tinh thần cho lần gặp này. Bà sẽ kể cho ông nghe chuyện hoạt động và tù đày của mình, sẽ động viên, chăm sóc ông...

Khi gặp, ông lặng đi như một pho tượng. Bao nhiêu năm không thấy mặt nhau, bà không cầm lòng được khi giờ đây, ông đã không thể nhìn thấy được bà... Ông bình thản dặn bà không được khóc, ông không thích sự ủy mị.

Bà ở lại với ông 3 ngày. Thời gian ngắn ngủi này, bà vừa chăm sóc ông lại tranh thủ đi thăm, động viên những đồng chí, đồng đội của ông còn đang rất đau đớn với những vết thương. Có những đồng chí bị giặc bắt và hành hạ suốt bao năm trời.

Thời gian sau đó, ông được Nhà nước đưa đi chữa mắt ở Trung Quốc nhưng không kết quả. Bởi mắt ông bị hỏng đã quá lâu. Lấy nhau 12 năm nhưng thời gian gần nhau chỉ tính bằng tháng, nên bà quyết định viết đơn xin đón chồng về đoàn tụ và để được tự tay chăm sóc chồng.

Năm 1976, bà đón ông về Sài Gòn. 3 năm sau, họ sinh thêm một người con trai nữa.

Sau giải phóng, bà được giao trọng trách làm Đội trưởng Đội Bảo vệ Chính trị của Công an quận Tân Bình (TP HCM) trong 5 năm (1975 - 1979). Đây là khoảng thời gian có nhiều diễn biến phức tạp, đặc biệt là ở TP HCM mà quận Tân Bình là một trong những địa bàn trọng điểm.

Bên cạnh đó, công tác bảo vệ nội bộ trong những ngày đầu xây dựng chính quyền ở Tân Bình nhiều vấn đề khó khăn, phức tạp. Kẻ xấu lợi dụng chui vào chính quyền cơ sở từ trước giải phóng để âm mưu chống phá lâu dài, trong khi đó, những cán bộ lãnh đạo mới chưa có nhiều kinh nghiệm đề phòng.

Đội công tác BVCT do Năm Thu phụ trách thường “ăn không đủ bữa, ngủ không đủ giấc”. Chỉ cần suy xét, kết luận không cẩn thận, có thể gây ra oan trái, ảnh hưởng đến nội bộ. Chỉ trong 2 năm (1975-1976), Đội BVCT đã phát hiện và đề xuất xử lý hàng chục đối tượng được cài cắm trong các cơ sở.

Đặc biệt, khoảng thời gian này, đội đã phát hiện, lập hồ sơ bắt 8 tên với âm mưu lập ra tổ chức “Liên đoàn thanh niên sinh viên giải phóng quận Tân Bình” do những kẻ xấu giả danh Cách mạng tổ chức tiếp quản trụ sở ấp, xã rồi thu gom vũ khí...

Riêng năm 1976, Đội BVCT đã khám phá 9 ổ nhen nhóm phản động, gồm 71 tên câu kết với một số tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài, âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng. Đội BVCT dành rất nhiều thời gian vào việc tiếp tục xây dựng cơ sở. Năm Thu móc nối một số cơ sở cũ, bên cạnh đó xây dựng những cơ sở mới - chính là những sĩ quan chế độ cũ giải ngũ hoặc có cảm tình với cách mạng trong quá trình học tập cải tạo.

Một số cơ sở như thế đã tham gia phá được nhiều án quan trọng và trở thành những người có công với cách mạng trong những ngày đầu miền Nam mới giải phóng.

Tính chung trong 4 năm từ 1976 đến năm 1979, Đội BVCT Công an quận Tân Bình đã bắt giữ hàng trăm tên có hành động phản cách mạng, thu nhiều tang vật, vũ khí, ngăn chặn nhiều âm mưu gây rối chính trị, góp phần bảo đảm an ninh chính trị trên địa bàn quận và TP HCM. Cùng với tập thể lập được nhiều thành tích trong giai đoạn đấu tranh mới, tháng 7-1979, Năm Thu được đề bạt chức Phó Công an quận Tân Bình, phụ trách công tác XDLL.

Thời gian đầu nhận nhiệm vụ mới, những khó khăn trong công việc càng chồng chất. Trong Ban chỉ huy Công an quận lúc đó chỉ có bà là cán bộ tại chỗ bởi một số đồng chí cũ đến giai đoạn nghỉ hưu. Nhưng, nhiệm vụ khó khăn nhất với nữ sĩ quan an ninh này là việc khắc phục những hạn chế về năng lực, một trong những vấn đề khá bức bách của Công an quận Tân Bình khi đó.

Với kinh nghiệm của một người từng bước đi lên từ cơ sở, từng xây dựng lực lượng từ cơ sở nên bước đầu tiên, bà thực hiện là củng cố lại từng đơn vị Ban, Đội, Công an phường, nhất là những nơi còn yếu kém, dần dần đi vào nền nếp. Bên cạnh đó, việc xây dựng những điển hình tiên tiến, sáng tạo trong công tác, có lối sống lành mạnh được bà đặc biệt coi trọng.

Đến bây giờ, bà vẫn cho rằng, kinh nghiệm đó còn rất quý trong việc đẩy lùi những tiêu cực, những tư duy cũ, thể hiện được quyết tâm khắc phục những tồn tại ngay trên “người thật việc thật” chứ không phải chỉ có nói bằng khẩu hiệu.

Ngày ngày miệt mài với bao công việc như vậy, nhưng khi về nhà, bà vẫn luôn là một người phụ nữ rất chu toàn. Từ khi đón ông về Sài Gòn, hiểu công việc của vợ, ông tự tập thói quen trong đi lại và tự phục vụ. Kinh tế khó khăn, ngoài đồng lương, đêm về, bà vẫn tranh thủ may vá kiếm thêm thu nhập để cải thiện đời sống.

Có những hôm giữa bữa cơm, ông khuyên các con nên phụ giúp bà việc may vá để bà yên tâm công tác và đỡ vất vả. Nghe ông nói, bà càng thương và nghĩ phải cùng các con chăm sóc ông chu đáo hơn, bởi nếu ông không bị địch cướp đi đôi mắt thì bây giờ chắc chắn ông vẫn là một chiến sĩ công an xông xáo trong cuộc đấu tranh mới, chứ không phải trong tình cảnh.

Có những khi thấy ông tự ái cho là “vợ làm to”, nói có nghe nữa đâu. Bà nhỏ nhẹ giải thích: “Anh à, em làm cán bộ để chỉ đạo anh em làm việc phục vụ nhân dân, phục vụ Đảng chứ đâu phải về nhà không nghe anh nói”. 

Rồi bà chợt nhận ra ngôi nhà bà ở cạnh mặt đường, tiếng xe cộ làm ông khó ngủ. Bà đã cố gắng xây căn nhà rộng để mỗi đêm giấc ngủ của ông được sâu hơn, thế nhưng các vết thương và bệnh tật vẫn cướp ông đi, bà không giữ được.

Năm 1989, với những nỗ lực không ngừng trong công tác, bà được bổ nhiệm Trưởng Công an quận Tân Bình  và tiếp tục làm việc cho đến khi nghỉ hưu

Hoàng Nguyên Vũ
.
.
.