Hoa đào trên gốm xuân

Thứ Bảy, 21/03/2026, 08:38

Tiết xuân Bắc Việt đã muộn, đào phai mỏng mảnh trút xiêm y sau tận dâng xuân thì, ánh sáng bình minh của năm rạng rỡ. Hoàng và Nguyên trở về, sân bay Nội Bài đón họ bằng thứ nắng vàng mỏng như tơ vương, như thể chỉ chạm nhẹ cũng tan biến.

Bước ra khỏi cửa phi trường, ngay lập tức Hoàng bị bủa vây bởi một bầu không khí xa lạ của xứ sở hoa anh đào. Gió Kyoto tháng mười hai như một lưỡi dao sắc lẻm xẻ đôi con phố. Ở Hà Nội, người ta quen với cái rét cứa vào da thịt mùa đông ngọt ngào. Còn cái lạnh ở đây rỗng, khô, như cắt đứt mọi giao nối với thế giới bên ngoài, đẩy con người vào sự cô độc.

Chiếc vali kéo trên mặt đường nhựa phẳng lì, sạch tinh đến đơn điệu. Hoàng thấy mình như một mảnh linh hồn lưu lạc, bị ném vào một cỗ máy khổng lồ vận hành bằng những quy tắc lạnh lùng. Anh lên một chuyến tàu về khu Gion, ngồi lọt thỏm giữa những hành khách Nhật Bản mặc áo dạ tối màu, trong sự im lặng bủa vây. Khiến Hoàng lo ngại đến bức bối, cái cổ họng anh đang bị ngứa, chỉ e tiếng ho phản chủ sẽ bật ra. Điều ấy khiến Hoàng càng cố hết sức thu mình lại, thậm chí anh ước mình trở nên vô hình.

Cơn sốt bắt đầu bùng lên như một đám cháy ngầm.

Đứng trước căn nhà trọ nằm sâu trong con ngõ nhỏ lát đá, đôi chân Hoàng như muốn khuỵu xuống. Cánh cửa gỗ sẫm màu hiện ra trước mắt, dửng dưng với cơn sốt của anh. Anh lóng ngóng tra chìa vào ổ, đôi bàn tay run rẩy không theo chỉ huy của não bộ. Trong khoảnh khắc đó, sự khác biệt địa lý không còn là những con số trên bản đồ, mà nó hóa thành một cơn sang chấn sinh học. Phổi anh đau thắt lại vì không khí quá loãng, và cổ họng đắng ngắt vì phải tiếp nhận những thứ quá xa lạ.

bdde5d72d4d45a8a03c52.jpg -0
Minh họa: Đỗ Dũng

Bên trong căn phòng, bóng tối nuốt chửng lấy Hoàng, đẩy anh vào cơn mê sảng. Anh thấy cha mình ngồi trên sập gụ, tay cầm bút lông nhúng vào một nghiên mực đen đặc như cục máu đông, đang gạch tên anh ra khỏi gia phả. Rồi, lại thấy mình đang bơi giữa một dòng sông đầy tuyết, đôi môi tím tái cố gọi tên một người con gái, nhưng miệng anh chỉ tràn ra những cánh hoa anh đào trắng nôn nao.

Anh lịm đi, trong cơn mơ chỉ còn nghe thấy tiếng bước chân rất nhẹ của ai đó ngoài hành lang gỗ, như lời thì thầm của bóng đêm huyễn ảo. Một bàn tay rất mềm đặt lên trán anh. Khiến Hoàng nhớ đến bàn tay mẹ, mỗi khi anh bị sốt.

Hoàng mở mắt, ánh đèn vàng ấm dìu dịu phả vào anh chút gì đó thân thuộc. Toan ngồi dậy, bàn tay mảnh dẻ ấy lại ngăn anh lại.

- Nằm yên đi. Anh vừa đi qua một quãng đường dài lắm, cả trong mơ lẫn ngoài đời.

Nguyên nói bằng một thứ tiếng Việt rành rọt, mang theo chút âm hưởng của gió sông Hồng, kiểu ngôn ngữ mà người nước ngoài dùng để cảnh báo thói lộn xộn, xấu xí của người Việt trong quán ăn. Anh ngơ ngác nhìn cô. Thời gian và gió tuyết xứ Phù Tang dường như đã lặng lẽ làm một cuộc tẩy xóa lên dáng vẻ của người con gái này.

Nguyên không còn cái vẻ mềm mại, đẫm nước của những cô gái vùng Đồng bằng sông Hồng. Gương mặt cô sáng và buồn như một vì sao cô lẻ, với đôi gò má hơi cao, làn da trắng đến xanh xao, màu da của người sống quá lâu dưới những mái hiên gỗ và ánh đèn nhạt, mà thiếu khuyết cái nắng vàng rực rỡ mùa hạ Bắc Việt.

Cô mặc một chiếc áo len cổ lọ màu xám trắng, bên ngoài khoác chiếc áo dáng dài màu xanh chàm, thứ màu đặc trưng của những xưởng nhuộm truyền thống Nhật Bản. Cô quàng chiếc khăn len mỏng, búi mái tóc đen nhánh bằng một chiếc trâm gỗ đơn sơ, tất cả đều toát lên vẻ giản dị. Đôi bàn tay cô đan vào nhau đặt trên gối, tĩnh lặng như một pho tượng Quan Âm.

Giữa căn phòng tối, trông cô vừa giống một người hàng xóm thân thuộc, lại như bao nhiêu xa xôi, câm lặng và đầy bí ẩn. Cô gái mang tâm hồn Việt nhưng đã khoác lên mình lớp vỏ bọc nghiêm nhu của xứ người, một sự Nhật hóa không phải để hòa tan, mà để tự bảo vệ mình trước nỗi cô độc của kiếp ly hương.

- Cô là?

Hoàng nói bằng cổ họng đau rát như bị cào bởi những mảnh gốm vỡ.

- Tôi tên Nguyên. Ở căn phòng cuối hành lang, sang đây đủ lâu để biết rằng cái rét Nhật Bản không thích những kẻ mang theo quá nhiều nỗi nhớ nhà trong hành lý.

Cô đưa cho anh chén trà gừng nóng hổi, khói bốc lên cay nồng.

- Cảm ơn cô. Tôi cứ ngỡ mình đã...

- Đã chết ở một nơi không ai biết tên?

Nguyên ngắt lời, đôi môi thoáng một nụ cười buồn tênh.

- Anh có nghĩ là nhành xuân Bắc Việt sẽ bơ vơ lắm, nếu thiếu đi hơi ấm của anh?

Nguyên nói và nhìn chăm chú vào chiếc khăn lụa nhỏ có thêu một nhành đào phai ửng hồng như gò má thiếu nữ xuân thì, nằm cạnh vai Hoàng. Anh bàng hoàng tìm kiếm thứ phong vị quê hương.

- Đây là thứ anh tìm phải không?

Cô đặt vào tay Hoàng chiếc khăn lụa hoa đào, anh thực an tâm, nhìn cô bằng ánh mắt hàm ơn.

- Ở đây lâu, cô có thấy cô đơn không?

- Tôi không biết gọi tên tâm trạng này là gì, vì ở đây, dù có nỗ lực đến đâu, tôi thấy mình vẫn chỉ là khách lạ. Tôi luôn sống trong nỗi thiếu quê hương.

- Xin lỗi, năm nay cô bao nhiêu tuổi?

- Tôi 28. Khuya rồi, chúc anh ngủ ngon bên nhành đào lụa, đừng khóc, bóng đêm không nhìn thấy nước mắt đâu.

Ngôi nhà nằm sâu trong một con ngõ nhỏ của Hà Nội, ngăn cách với sự ồn ã ngoài kia bằng một cánh cổng sắt mà thời gian uể oải đóng dấu bằng sự hoen gỉ lưng chừng. Hai hàng cau cao vút, gầy guộc viết trên nền trời những kí tự mang mã QR quá khứ. Đã bao cuộc đời bước qua ngưỡng cửa bằng đá xanh này, khiến nó mòn vẹt, không gian cách bức với phố thị bằng một vẻ u trầm, tịch mịch. Từ ngày Hoàng đi vắng, ngôi nhà càng lặng im không nói.

Nó mang mùi kí ức tập thể của một thời vang bóng. Đó là thứ mùi cũ kĩ núp sâu vào từng thớ gỗ, trong những vàng son đã phai và trầm hương phảng phất từ gian thờ chính giữa. Trên cao, những bức hoành phi, câu đối sơn son thếp vàng đã xỉn màu, phủ lên không gian một áp lực vô hình từ những thành tựu của tiền nhân. Những nét chữ chứa hoài bão tung hoành của bao thế hệ như đè nặng xuống đôi vai của những thành viên gia đình.

Gian bên trái là thư phòng của ông Thạch, cha Hoàng, một giáo sư ngôn ngữ, nơi những giá sách bằng gỗ gụ đóng cao sát trần, xếp kín những pho thư tịch cổ. Cái bóng của cha ông quá lớn, phủ xuống cuộc sống đời thường, khiến mỗi bữa cơm trở thành một buổi học, nơi Hoàng học cách nâng bát, hạ đũa sao cho không làm xao động cái không khí u trầm mặc định.

Gian bên phải là thế giới của vợ ông - bà Mai, một chuyên gia toán học, với chiếc bàn làm việc ngăn nắp, những thước kẻ và compa đặt ngay ngắn, chính xác không thừa một nét. Bà yêu con bằng một tình yêu như phép rút gọn toán học, không có những cái ôm ghì, không có những lời nũng nịu, chỉ có những chuẩn mực cứng nhắc. Với bà, đạo đức là một phương trình không được phép có sai số.

Ngôi nhà cổ này có một thứ quyền năng kỳ lạ, nó nâng niu quá khứ như bảo vật, nhưng hầu như cách bức với nhịp sống hiện đại. Tiếng mưa rơi trên mái ngói nghe như âm thanh mài mực trong nghiên, tiếng gió lùa qua khe cửa cũng sẽ sàng như lật pho sách quý.

Cậu bé Hoàng từ nhỏ dù ở ngoài có nghịch ngợm đến đâu thì về nhà đều phải rón rén. Cậu không được sống trong cái phong vị hồn nhiên của tuổi thơ. Trong nếp nhà đó, Hoàng như được mặc một bộ áo giáp quý, vừa được phong bọc khỏi những xô bồ của thế gian, vừa bị siết chặt bởi những khuôn thước mà anh chỉ có thể vượt thoát trong giấc chiêm bao. Ngôi nhà cổ bảo bọc anh bằng sự sang trọng của tri thức, nhưng cũng trì níu sự phóng khoáng. Mà sự đời, càng nén lại càng dễ bật.

Hoàng yêu cha mẹ bằng một nỗi sợ tôn kính, một thứ tình cảm da diết nhưng không dám bột phát, hồn nhiên như bao bạn bè cùng trang lứa. Anh thèm mang những giọt mồ hôi nhễ nhại từ sân bóng về nhà, thèm nhận được cái nhéo tai âu yếm của bố mẹ để xóa đi khoảng cách. Sự nghiêm cẩn của mẹ và chữ nghĩa của cha đã tạc nên một Hoàng tinh tế, thông minh, nhưng mang trong lòng một vết xước của một kẻ chỉ mong được vùng vẫy giữa một thế giới sáng tạo và tự do vô biên.

Bước ra khỏi phi trường Narita, với tấm bằng đại học loại ưu trong hành lý, nhưng trong lòng là một khoảng trống rỗng vô biên, Nguyên đã chán ngấy cuộc hôn nhân với cái vẻ hoàn hảo bên ngoài của cha mẹ. Họ là những trí thức trung lưu, dù ở trong cái thế đồng sàng dị mộng, nhưng vì sĩ diện mà họ luôn khoe với thiên hạ hạnh phúc giả tạo, khiến bao người vì lầm tưởng mà lấy họ làm hình mẫu.

Là con độc, Nguyên cũng là người đầu tiên, duy nhất biết rõ sự rạn vỡ của bố mẹ qua những trận cãi vã nảy lửa. Cô không khỏa lấp sự thất vọng về người lớn bằng những cuộc chơi thâu đêm suốt sáng như một số cô chiêu cậu ấm khác, mà phản kháng gia đình bằng cách vong thân trong chính khát vọng của cha mẹ.

Cô chọn học nghề gốm tại một xưởng nhỏ ở vùng ngoại ô Kyoto. Đó là một quyết định khiến cha mẹ cô bàng hoàng, coi đó là một sự tự sát về trí tuệ. Nhưng, với Nguyên, gốm là thứ không biết nói dối. Cô không muốn làm một nữ trí thức ngồi trong văn phòng máy lạnh để tìm hiểu thế giới theo kiểu sách vở. Cô muốn đôi bàn tay mình được lấm lem, được cảm nhận cái nguyên bản của bùn đất trước khi nó thành hình qua lửa đỏ.

Nhìn Nguyên bên bàn xoay, người ta thấy một cô gái đang đối thoại với sự thật và mất mát. Đất sét lạnh và mềm, dưới sức ép của đôi bàn tay Nguyên, dần dần vươn cao, xoay tròn, tạo thành những hình hài vừa vững vàng lại kiêu hãnh. Cô yêu cái cách đất sét phản kháng lại ngón tay mình, yêu cả những khi chiếc bình bị sụp đổ giữa chừng, vì ít nhất, nó dám dũng cảm thừa nhận mình thất bại. Nó phải tự vỡ để tái sinh. Đời người cũng vậy, cái chết không phải là biến mất mà là bắt đầu một sinh mệnh mới.

Việc chọn nghề gốm là cách Nguyên bứt khỏi con đường của tổ tiên, để khẳng định mình ở một hệ giá trị mới. Sự chính xác nhiều khi là vô cảm, cô cần sự rung động, dù cho đó là khoái thú đau thương, nhưng được sống là chính mình, được nhìn thế giới dù qua những mảnh vỡ văng ra từ nỗi bất hạnh của một cuộc hôn nhân kiểu mẫu, được mở nỗi đau của mình trước cái hạnh phúc ngộp thở của kẻ khác. Với cô, gốc rễ của cái đẹp là đạo đức và sự thật. Những sản phẩm gốm cô làm ra có những đường vân không đều, vệt men chảy tự nhiên như dòng nước mắt bị kìm nén. Cô gọi đó là vẻ đẹp của sự bất toàn.

Ở xứ người, Nguyên sống cô độc nhưng tự tại. Hầu như hạn chế giao tiếp với bố mẹ, Nguyên chờ vết nội thương của mình lành lặn. Im lặng chính là cách cô cầm máu quá khứ. Cô học cách kiên nhẫn đợi đất khô, học cách chấp nhận rằng có những thứ khi đưa vào lò nung có thể sẽ rạn vỡ, nhưng cũng có những thứ sẽ mang một đời sống mới khi được tôi rèn qua lò lửa. Gian nan là trường thử thách.

Không theo con đường đã vạch sẵn của gia đình là trở thành một tiến sĩ toán học hay ngôn ngữ học, Hoàng chọn một lối rẽ mà cha anh gọi là phù phiếm, còn mẹ anh gọi là sai số: Nghiên cứu văn hóa phương Đông. Vì văn hóa là một cái gì quá rộng lớn, trong khi để mưu sinh và lập thành tựu, người ta cần một nghề nghiệp cụ thể.

Anh từ chối những triều đại huy hoàng, chú tâm vào những vết nứt, mảnh vỡ trong đời sống và đi vào tìm kiếm sự hàn gắn. Đó có thể đơn thuần chỉ là những chiếc bát từ niên đại xa mù được hàn gắn lại, về những phong tục đời thường sắp bị xóa sổ, về văn hóa ứng xử của người bình dân... Những thứ mà dưới mắt cha mẹ anh, chúng không đủ chuẩn mực để trở thành đối tượng của giới trí thức. Ngày anh thông báo quyết định, nếp nhà cổ bỗng dưng lặng ngắt, một sự im lặng trước cơn bão.

- Con định dành cả đời để đi nhặt nhạnh những mảnh vỡ nhỏ bé của thời gian sao? - Cha anh hỏi, giọng khô khốc.

- Con muốn tìm thấy sự sống ở những nơi không có khuôn mẫu, thưa cha.

Nguyên dẫn Hoàng bước vào một xưởng gốm, nằm khuất trong con hẻm nhỏ hai bên là những bụi hoa được tỉa gọn gàng. Mùi đất sét quyện với mùi gỗ thông cháy thoang thoảng, một mùi hương mộc mạc và tĩnh lặng. Giữa gian xưởng bề bộn những phôi gốm và dụng cụ, một người phụ nữ Nhật Bản tuổi ngoại lục tuần đang tỉ mỉ chỉnh sửa chiếc bàn xoay. Bà mặc bộ Kimono cũ kĩ, mái tóc bạc vấn gọn, gương mặt bóng thời gian thảng thốt rơi, cái nóng của lửa lò làm quăn những sợi tóc mai đã phai.

Bên cạnh bà, một thanh niên khoảng hai mươi tuổi, cao lớn nhưng ánh mắt thơ ngây như một đứa trẻ, đang dùng ngón tay hồn nhiên vẽ những hình thù lạ lẫm lên mặt bàn xoay. Cậu con trai bà đã ở tuổi trưởng thành mà ngây ngô như một đứa trẻ. Thỉnh thoảng, cậu ta lại lặp đi lặp lại một từ tiếng Nhật, thứ ngôn ngữ riêng để bày tỏ yêu thương với mẹ. Điều có lẽ chỉ mẹ con họ mới hiểu được. Hoàng lặng lẽ quan sát. Mỗi khi con trai phát ra tiếng động, đôi mắt bà lại dịu dàng hướng về phía con, kiên trì tập cho con từng động tác, rồi nhẹ nhàng đặt một chiếc bát màu cạnh con.

- Con thích cái màu này sao, Kaito?

Bà lại nắm bàn tay con, hướng dẫn cậu đặt một nắm đất sét lên bàn xoay. Người con trai, dưới cái chạm của bàn tay mẹ, bỗng trở nên tập trung lạ thường, mắt nhìn như nuốt khối đất sét, rồi vụng về nhào nặn theo từng cử động mềm mại của mẹ. Bà khoe với Hoàng những tác phẩm của con trai, đó là những hình gốm mộc kì dị nhưng sinh động. Ánh mắt bà ngập tràn hạnh phúc. Với mẹ, đứa con nào cũng bé bỏng. Bất giác, Hoàng quay sang Nguyên, hình như trong tim hai người vừa vỡ ra điều gì đó.

Ông Khôi trang trọng đặt chậu lan hoàng điểm lên bàn, ánh mắt nhìn ông Thạch đầy hàm ơn. Xoay xoay chén trà trong lòng tay sương gió, ông Khôi tư lự.

- Ngày đó không có thầy giúp đỡ thì em chẳng được như bây giờ. Chỉ vì nóng vội và hời hợt về chữ nghĩa mà sém chút đề tài tiến sĩ của em không được duyệt.

- Chữ nghĩa cũng như con người, không tránh khỏi những lúc sẩy chân. Tôi cứu anh vì không muốn một tài năng phải đứt gánh giữa đường, chứ không phải chờ sự báo đáp.

- Nhưng, hình như em cũng quá cứng nhắc khi dạy chữ cho con gái, khiến đứa con gái duy nhất của em kháng cự gia đình bằng cách sang Nhật học và làm một công việc của người bình thường. Nhưng, chính vì sự bất phục của nó, mà vợ chồng em đã phải soi lại mình, để sửa chữa hôn nhân, tuy nhiên con bé chưa biết điều ấy.

- Tôi khác gì anh, thằng con trai tôi cũng đi một lối riêng. Hình như, nếp gia phong có những giá trị bất biến nhưng cũng có những cổ tục phải thay đổi cho hợp thời.

Nói đến đây, bất giác cả hai mái đầu sương gió đều im lặng, căn phòng chỉ còn lại mùi hương trầm và sự im lặng minh triết.

Mùa đông Kyoto trôi qua như một lớp men gốm phủ lên đời sống của Hoàng và Nguyên. Hoàng mải miết đi về giữa thư viện và xưởng gốm. Ban ngày, anh làm bạn với những cuốn sách tiếng Nhật đượm mùi giấy cũ, tìm hiểu những nghi lễ bình dân sắp bị lãng quên. Tối đến, anh ghé xưởng của người đàn bà Nhật, lặng lẽ quan sát Nguyên làm việc dưới ánh đèn vàng. Đôi tay cô áp vào khối đất sét dịu dàng như một sự lắng nghe để thấu hiểu. Đất mềm ra, nâng mình lên, thành một chiếc bát miệng loe, hơi méo ở vành.

- Anh thấy nó không tròn trịa không?

- Anh lại thấy sự không tròn trịa đã làm nên đời sống mới của đất.

Một lần, Hoàng được bà giao cho việc trông Kaito khi bà đi chợ. Chàng trai ấy ngồi bên bàn đất, lẩm nhẩm một từ tiếng Nhật không ai hiểu. Hoàng ngồi xuống cạnh cậu, không nói gì, chỉ đặt cạnh cậu một chiếc bát màu. Kaito nhìn anh, ánh mắt trong veo như mặt hồ thu.

Nhưng, khi Hoàng vô tình làm rơi một phôi gốm, Kaito bật dậy, chạy đến nhặt lên, rồi đặt lại lên kệ, thận trọng như một nghi lễ. Bàn tay cậu khẽ chạm vào tay Hoàng, một cái chạm rất nhẹ. Khoảnh khắc ấy, Hoàng chợt nghĩ đến cha mình. Ông cũng từng lặng lẽ đứng phía sau mỗi lần anh viết sai một nét chữ, không quát mắng, chỉ đặt lại cây bút vào tay anh đúng cách. Có những tình yêu không cần lên tiếng.

Mùa xuân đến, hoa anh đào nở dọc bờ sông Kamo. Những cánh hoa rơi xuống vai áo Nguyên như những giọt lệ thầm chưa dám gửi về Hà Nội. Hoàng và Nguyên ngồi trên bờ cỏ, cạnh đó nhiều gia đình người Nhật Bản cũng hồn nhiên thưởng thức khí vị xuân.

- Anh có muốn về nhà trong mùa xuân không?

- Anh chưa đủ can đảm để đối diện với cha mẹ. Còn em?

Nguyên không đáp lời Hoàng, cô im lặng nhìn con sông đang xoải mình đón những cánh hoa anh đào dập dờn trôi trôi. Cô nhớ lại những cuộc gọi về nhà, khi bố mẹ lên tiếng, cô chỉ im lặng nghe như uống thứ tiếng nói quen thuộc ấy.

Đêm cuối hạ, trăng chín ửng, gieo từng mảnh sáng xuống nhân gian thăm thẳm, nhưng xưởng gốm không bình yên. Lò nung quá nhiệt, mẻ gốm mà Nguyên dày công bị nứt toác. Đôi mắt Nguyên thất thần như rơi tõm vào bóng tối câm lặng. Trên đầu cô, trăng vẫn dãi vàng. Hoàng lặng lẽ nhặt từng sản phẩm gốm, xếp lại trên bàn.

- Ở Nhật có một nghệ thuật hàn gốm bằng vàng, em nhỉ?

- Kintsugi, mỗi tác phẩm được sửa chữa là một phiên bản có một không hai.

- Vậy thì ta hàn lại đi, nó sẽ có một đời sống mới.

Nhìn những đường rạn trên thân gốm, cô bật khóc, lần đầu tiên sau nhiều năm quăng quật xứ người, khi thất bại, cô được dựa vào một bờ vai ấm. Hạnh phúc đôi khi chỉ là ta được ở bên một người, người không chỉ chấp nhận thất bại mà còn nắm tay ta đi qua khó khăn. Đêm ấy, họ cùng nhau pha trộn hỗn hợp bột theo một tỷ lệ khắt khe, kiên nhẫn lấp đầy từng vết nứt. Những chiếc bình sau khi hàn lại mang một diện mạo mới. Đó như vẻ đẹp kiêu hãnh của những kẻ từng đi qua đổ vỡ và mất mát.

Tiết xuân Bắc Việt đã muộn, đào phai mỏng mảnh trút xiêm y sau tận dâng xuân thì, ánh sáng bình minh của năm rạng rỡ. Hoàng và Nguyên trở về, sân bay Nội Bài đón họ bằng thứ nắng vàng mỏng như tơ vương, như thể chỉ chạm nhẹ cũng tan biến. Hoàng kéo vali, trong đó không chỉ có luận văn sắp hoàn thành, mà còn có một chiếc bát Kintsugi do chính tay anh và Nguyên hàn. Nguyên mang theo vài món gốm của mình, những chiếc bình có men chảy như giọt nước mắt khóc thầm.

Cửa tự động mở ra. Ông Thạch đứng đó, vẫn bộ vest sẫm màu, dáng người thẳng như một dấu chấm than nghiêm cẩn. Bà Mai bên cạnh, áo dài màu thiên thanh, tay cầm chiếc khăn tay thêu hoa đào. Cách đó vài bước, ông Khôi và vợ ông cũng bồn chồn đứng đợi. Khi thấy Hoàng, bà Mai vội chạy ra, ôm chầm lấy con trai. Lần đầu tiên Hoàng thấy tim mình rơi khỏi lồng ngực. Anh nhắm mắt, tận hưởng sự ấm áp trong lòng mẹ. Bàn tay ông Thạch vỗ nhè nhẹ lên vai Hoàng.

Xế bên, ông Khôi bước đến cạnh Nguyên.

- Bố đã xem những sản phẩm con gửi về. Đẹp lắm!

Nguyên không đáp, chỉ mở vali, lấy ra một chiếc bình có vết hàn.

- Con mang về cho bố mẹ một thứ. Nó từng vỡ.

Bà mẹ đưa tay chạm vào vết hàn, tay kia ôm lấy con gái, trong đôi mắt bà, hai giọt lệ vỡ như sương.

Buổi chiều, trong ngôi nhà cổ, hai hàng cau vẫn gầy guộc như những nét bút đề thơ lên nền trời. Có một thứ ánh sáng kì lạ dậy lên. Cây đào phai ngoài vườn vẫn hây hẩy xuân thì, cánh mong manh, gieo mình xuống đất nâu màu hồng xao xuyến. Mùi hương trầm tỏa ấm, quyện lại trong lồng ngực rưng rưng như niềm mặc khải vũ trụ trước mùa tinh khôi.

Hoàng quan sát ngôi nhà và mảnh vườn cũ, đã mấy xuân trôi qua, thời gian còn phong dấu rêu xanh, anh như được thấy mình trong mỗi bình minh trìu mến hay hoàng hôn ấm cúng ngày cũ. Gia đình là nơi duy nhất cho con người nương náu sau những tai ương của số phận.

Hương trầm trong gian giữa đã được đốt sẵn. Những bức hoành phi, câu đối sơn son thếp vàng vẫn treo cao, nhưng Hoàng thấy xiết bao gần gụi. Nắng phương Đông chan chứa qua song cửa, rơi lên lớp bụi mịn tựa hồ lớp men thời gian phủ trên gỗ gụ. Hoàng bước vào thư phòng của cha. Mùi giấy cũ, mùi mực tàu, mùi gỗ ẩm vẫn nguyên vẹn như ngày anh rời đi. Cái mùi mà anh từng có lúc ghét bỏ, sao những tháng ngày xa xứ, lại luôn nôn nao trong ngực anh một nỗi nghẹn ngào không tên.

- Luận văn của con viết về cái gì?

Hoàng đặt chiếc bát Kintsugi lên bàn. Những đường hàn vàng mảnh như sợi chỉ ánh lên.

- Con viết về những mảnh vỡ, về cách con người giữ lại linh hồn của một nền văn hóa bằng việc hàn những gì tưởng đã bỏ đi.

- Hồi con còn nhỏ, cha từng làm rơi một chiếc nghiên mực của tổ tiên. Cha đã giấu nó đi, vì nghĩ rằng vết nứt là điều không thể chấp nhận. Nhưng, cha đã sai.

Tháng ba, xuân đã muộn, hội làng ở ngoại ô, hoa xoan nát dưới những náo nức, đó đâu từ những thửa ruộng còn sót lại sau những bản quy hoạch vội vã, những nhánh lúa non trỗ xanh biếc màu hy vọng, hình như có tiếng của một loài chim khắc khoải gọi hạ về. Phi trường đông đúc, vợ chồng ông Thạch và ông Khôi nán lại trong phòng chờ, cả bốn cặp mặt dán chặt vào hai dáng người trẻ trung đang xếp hàng chờ bay.

Hoàng xách đồ cho Nguyên. Bờ vai vuông vức của anh như che chở cho cái mảnh khảnh, dịu dàng của cô. Trong túi áo ngực của Hoàng, lấp ló mảnh khăn lụa thêu nhánh đào phai. Còn trong hành lý của Nguyên, có con búp bê gốm được mẹ tặng vào sinh nhật 10 tuổi của cô, nó bị sứt một mảnh ở chân phải, do cái gạt tay vô tình của bố trong một trận cãi vã với mẹ. Nguyên nghĩ đến việc con búp bê sẽ lành và đứng vững trên đôi chân của mình, khi được cô sửa chữa trong xưởng gốm của người đàn bà Nhật Bản.

Truyên ngắn của Nguyên Tô
.
.
.