Xóm Gốc Gạo
Nằm nép mình vào chân núi Cham Chu bốn mùa mây phủ, xã Bình Xa thuộc diện xã vùng sâu của huyện. Trong suốt kháng chiến chống Pháp, nơi đây là "An toàn khu" của tỉnh. Đây cũng là quê hương thứ hai của những người dân thị xã tiêu thổ kháng chiến tản cư lên. Gia đình tôi và gia đình bác Tiến nằm trong số những người chạy loạn đó. Trước hết, xin được bắt đầu câu chuyện từ xóm Gốc Gạo cùng những người hàng xóm của tôi ở đó, cái lý do để tôi có chuyến về nguồn này.
Xóm Gốc Gạo gồm hơn hai chục nóc nhà cụm lại, đa phần là dân tản cư. Xóm tạo thành một phố núi kháng chiến giữa lòng chiến khu với đủ các quán cắt tóc, thợ may, bán phở... Bố mẹ tôi trước ở dưới thị xã có cửa hiệu hàng xén, giờ lại tiếp tục nghề cũ.
Hàng ngày mẹ tôi xách cái bị đựng một số hàng tiêu dùng thiết yếu như cây kim sợi chỉ, vải vóc, gương lược... đem vào các bản làng xa đổi lấy cân gạo con gà. Sớm tinh mơ mẹ đi, tối nhọ mặt người mới về. Cứ chiều xuống, nhìn màu núi Cham Chu đổ thẫm, tôi lại ứa nước mắt nhớ mẹ.
![]() |
| Minh họa của Nguyễn Đăng Phú. |
Còn bố, hàng ngày ngoài việc chính trông hai anh em tôi, thời gian còn lại ông đi câu. Ông có thể ngồi cả buổi bên bờ suối, dù thường vác cần về không. Thi thoảng bố cũng tham gia công tác xã hội, đi kẻ khẩu hiệu hoặc viết những câu ca dao do ông Đích, một con người tài hoa, biết gảy đàn bầu sáng tác.
Xóm Gốc Gạo còn có vài gia đình công nhân công binh xưởng đặt trong núi Cham Chu. Họ là những gia đình đi đầu các phong trào diệt dốt, tương thân tương ái... Đến cuối cuộc kháng chiến, công binh xưởng rời đi nhường chỗ cho một đơn vị quân đội về lập trại tù binh giam giữ lính Pháp từ các mặt trận Biên giới, Điện Biên Phủ.
Tôi còn nhớ lần đầu tiên nhìn thấy Tây mũi lõ, từng toán thất thểu, bạc nhược, quần áo bê bết bùn, máu. Những người tù binh, khi còn ở bên kia chiến tuyến họ là kẻ thù, nhưng giờ đây, khi đã rũ bỏ súng ống, trông họ cũng thuần phác, có khi còn hồn nhiên. Có gì đó như tính bản thiện trong con người họ đang thức dậy.
Có người tù binh rất thích trẻ con, thấy lũ chúng tôi anh ta vẫy vẫy, ngọng líu câu tiếng Việt "Tí nhau... tí nhau!". Có đêm đơn vị cho đốt lửa trại liên hoan văn nghệ, họ nhảy quanh đống lửa hát đầy phấn kích "I mọc ki sấu sấu/ i mọc ki oạc oạc!...". Chắc lúc đó hình ảnh một đất nước châu Phi xa xôi nào đó đang hiện lên trước mắt họ...
Có trại tù binh, xóm Gốc Gạo bỗng sôi động hẳn lên. Những anh bộ đội hát hay, thổi kèn amônica rất giỏi, luôn thu hút bọn trẻ con trong xóm. Còn đối với những người tù binh, nhất là với số hàng binh phản chiến, họ được tiếp xúc với dân, tỏ ra rất thích học và nói chuyện bằng tiếng Việt. Ngày tết Nguyên đán, họ cũng "Chúc năm mới!" và hòa vào cùng nam nữ thanh niên cầm "còn" ném.
Người dân xóm Gốc Gạo còn nhớ mãi đám cưới giữa anh sĩ quan Quân đội Việt
Hôm lễ cưới cử hành, bọn trẻ con chúng tôi là những khách không mời mà đến, nhưng lại có mặt ở đám cưới sớm nhất và về muộn nhất. Lũ trẻ con vừa nhai kẹo vừa hát những câu vè "Ve vẻ vè ve/ Cái vè lá nốt/ Anh Bền cũng tốt/ Chị Mai cũng xinh/ Hai bên rập rình/ Đều muốn lấy nhau...". Chị Mai là y tá cho cả bà con xóm Gốc Gạo, tôi cũng đã được hơn một lần chị đến nhà tiêm thuốc cho.
Như vậy là đã hơn ba chục năm tôi mới trở lại xóm Gốc Gạo. Thế gian biến cải vũng nên đồi, nơi đây đang là một điểm đến của du lịch. Cây gạo cũng không còn nữa, ở đấy giờ mọc lên ngôi nhà ba tầng khang trang là trụ sở UBND xã Minh Hương. Tôi quay sang hỏi chị Tiến:
- Liệu có còn ai của xóm Gốc Gạo ngày xưa không chị?
- Còn chị Nhị, cậu có nhớ không? Trưa nay chị em mình vào thăm chị ấy.
Chị Tiến bỗng trở thành hướng dẫn viên du lịch cho tôi. Cũng phải thôi, bởi vì có phần mộ bố chị ở đây mà năm nào chị cũng trở lại hương khói, nên mọi đổi thay của xóm Gốc Gạo chị đều tường.
Trước khi vào thắp hương cho bác Tiến, chị em tôi vào thắp hương "xin phép" ở một ngôi đền kề đó. Chị Tiến bảo, hồi chị em mình ở đây chưa có ngôi đền. Đền mới có cách đây chừng hai chục năm, thiêng lắm. Lần nào lên chị cũng không quên vào đền thắp hương.
Ngôi đền tọa lạc trên một ngọn đồi, phong cảnh hữu tình. Trước cổng đền, tôi để ý một bức tranh tường vẽ con hổ tướng mạo oai linh, mà dân địa phương vẫn thờ gọi là "Ông ba mươi". Nhìn bức vẽ con hổ tôi lại nhớ một chuyện đã xảy ra ở đây. Hồi ấy xóm Gốc Gạo heo hút lắm, đường đi chỉ là đường mòn, gần như đường rừng. Thường hổ vẫn hay về quấy nhiễu rình vồ người.
Một lần kia có con hổ ngồi bên suối phục người đi rừng. Một bà già bị nó vồ. Rất may lúc ấy có một người tù binh da đen trông thấy đã lao vào chống trả con hổ. Bà già thoát chết. Còn người tù binh kia thì mang nhiều vết tát của móng hổ trên mặt, trên thân mình. Sau này được xem những thước phim về săn hổ ở châu Phi, tôi lại nhớ đến chuyện người tù binh đánh hổ cứu người với sự cảm phục.
Nghĩa trang của xóm Gốc Gạo chia làm hai khu, một bên của dân, phần còn lại là nơi chôn cất những tù binh Pháp xấu số nằm lại đây. Tôi bỗng nghĩ, không biết trong tốp khách du lịch "Tây balô" gặp lúc nãy, có ai là người có thân nhân chôn cất ở đây không? Bởi vì tôi thấy trong tay họ cũng mang theo những bó hương như chị em tôi.--PageBreak--
*
Hỏi thăm nhà chị Nhị, người dân bảo ra ủy ban xã, bà ấy ở đấy. Một bà già đang quét dọn nhà cửa cho ủy ban ra đón chúng tôi. Trời, chị Nhị đây ư? Tôi suýt thốt lên. Không thể nhận ra chị Nhị, hoa khôi của xóm Gốc Gạo ngày xưa nữa.
Chị Nhị là người gốc dưới xuôi, lên làm con nuôi một gia đình người Tày từ nhỏ. Tôi còn nhớ như in hình ảnh chị Nhị thời con gái, mặc áo váy thổ cẩm, cổ đeo vòng bạc sáng lóa đứng trong tốp ném còn. Chị là người ném trúng nhiều nhất.
Gặp lại chị Tiến và tôi, chị Nhị mừng tủi khôn xiết. Chị cứ cầm hai tay tôi, nắn vai xoa má như với đứa trẻ. Trước cử chỉ săm sắn tiếp khách của chị, nhìn cảnh chị mau nước mắt ôm lấy chị Tiến phút gặp nhau, tôi bỗng nhận ra tình cảm sâu đậm của những con người một thời gian khổ cưu mang, có khi còn hơn cả tình cảm họ hàng.
Mấy lần tôi định hỏi chị Nhị về ngôi đền Tây đen ở đây, rồi lại thôi bởi cái cách chuyện trò không rứt ra được của hai người. Chị Nhị bảo phải ngủ lại mới thỏa chuyện, ở nhà chị cũng đủ phòng khép kín, ở ủy ban có nhà khách. Bây giờ dân với ý thức làm du lịch, nhà ai cũng xây to để đón khách. Chợt chị quay sang hỏi tôi;
- Thật đoảng, chưa hỏi thăm cậu về gia đình, các cụ thế nào?
Khi biết tin bố tôi đã mất, chị Nhị ngồi thẫn người:
- Thật thương ông cụ, người hiền lành, thật thà.
Đoạn, chị dẫn chứng bằng câu chuyện về bố tôi, vẫn là chuyện một thời của xóm Gốc Gạo. Hồi ấy, mẹ tôi bị bệnh hậu sản không thể tiếp tục đi bán hàng rong được, bố tôi quay ra mở bán cafe, giải khát. Khách đa phần là bộ đội, hàng binh được phép ra ngoài trại. Trong số những hàng binh ấy, có một người lính da đen sau này mang tên Việt là Tô Thắng.
Vào cuối năm 1953 đầu 1954, tin Pháp thua trận từ các chiến trường dội về làm nức lòng không chỉ với quân dân ta, mà cả với một số tù binh. Với họ, hòa bình, được trở về Tổ quốc là niềm khát khao lớn hơn tất cả. Có một số tù binh đem hết tiền, vàng, đồng hồ ra đổi lấy chỉ một con gà, chai rượu, chục trứng để ăn mừng.
Đơn vị bộ đội ra thông cáo đề nghị nhân dân không nên vì hám lợi mà làm ảnh hưởng xấu đến quốc thể. Một lần Tô Thắng cầm một xấp tiền "con đầm" (tiền Đông Dương) đưa bố tôi. Nhưng ông đã cương quyết chối từ và bảo anh cần thứ gì thì cứ nói.
Ngày ấy ở xóm Gốc Gạo, có người đã đổi trác với tù binh được rất nhiều tiền đủ về mua nhà ở Hà Nội. Việc bố tôi chấp hành chỉ thị của đơn vị bộ đội được giấy khen, song cũng bị một số người chê là quá khờ khạo.
Nghe chị Nhị nhắc đến cái tên Tô Thắng, tôi tò mò hỏi chị:
- Em nghe nói sau hòa bình, Tô Thắng xin ở lại Việt
Và đây là câu chuyện chị Nhị kể về người hàng binh Tô Thắng, có thể xem đó là xuất sứ của một ngôi đền có cái tên nghe lạ hoắc - Đền Tây đen.
Ngôi đền ấy còn có tên lạ "Kim Sơn tự" (mà tôi đọc được ở cổng vào) và dân địa phương có người gọi là đền, người gọi chùa, theo cách hiểu riêng của mình.
Tô Thắng (không ai rõ tên bản xứ của anh ta), là người Ma Rốc, bị Pháp động viên vào đội quân viễn chinh sang Việt
Tô Thắng bản chất là một nông dân cù mì, làm việc chịu khó. Với sức vóc to cao, ngày còn ở nhà, anh đã từng vào rừng săn bắt hổ. Bị đưa sang Việt
Ngày ấy dân xóm Gốc Gạo chứng kiến một sự kiện lạ: Một đoàn người cùng màu da với Tô Thắng đến Trại, được tiếp như thượng khách. Họ ở lại Trại vài ngày, làm việc với chỉ huy Trại và nói chuyện với tù binh. Sau mới biết đó là phái đoàn của một Mặt trận yêu nước, sang Việt
Và điều bất ngờ nữa là lần ấy Tô Thắng gặp lại một người bạn là thành viên trong Đoàn. Anh được biết nhiều tin tức về vợ con, quê nhà. Tô Thắng trở thành một cán bộ của phong trào yêu nước Ma Rốc và có nhiều thành tích giác ngộ tù binh ở Trại. Anh được Quân đội Việt
Nhưng vào đúng cái ngày anh và những tù binh trông đợi nhất là chiến tranh kết thúc, trao trả tù binh để được hồi hương thì Tô Thắng nhận tin chẳng lành, vợ và nhà cửa ở quê đã bị mất trắng. Trong tâm trạng bế tắc, Tô Thắng quyết định xin ở lại Việt
Anh được phân về một nông trường, trở thành công nhân rồi lấy một người vợ Việt. Được một năm, người vợ ấy lại bỏ anh không một lời nhắn lại. Người ta đàm tiếu rằng vì chị vợ không chịu được sinh lý sung mãn của anh chồng gốc Phi. Tô Thắng xin thôi việc ở nông trường, vác balô trở lại nơi trại tù binh đóng xưa và làm công dân của xóm Gốc Gạo. Anh vào rừng lấy tre dựng nhà.
Nhờ có sức khỏe trời cho, anh đi gồng thuê vác mướn kiếm cơm, những việc nặng không ai làm được thì anh làm. Một lần có người thuê anh dỡ cả một bè tre từ sông lên bờ. Anh bảo gia chủ, không phải mặc cả, chỉ cần nấu cho hai cân gạo với hai cân thịt trâu, một chai rượu. Ăn uống no say xong, anh cởi áo lao xuống sông, một mình với bè tre.
Sẩm tối thì bè tre dỡ xong, anh khoác áo lặng lẽ ra về, không đợi gia chủ cảm ơn, thưởng công. Những giai thoại về Tô Thắng còn nhiều. Người ta kể có lần địa phương có Đoàn Văn công Trung ương về biểu diễn. Người soát vé không cho Tô Thắng vào bởi anh không có vé. Anh quay về thắng bộ quân phục, đeo huân huy chương chỉnh tề, đến dậm gót chào người soát vé: "Tô Thắng đây! Chiến sĩ Điên Biên đây! Cho vào không?".
Rồi bỗng một ngày dân xóm Gốc Gạo thấy vắng bóng Tô Thắng. Hơn năm sau anh trở về trong bộ áo cà sa. Thì ra anh đã xuống tóc đi tu ở một ngôi chùa. Từ trên nền ngôi nhà mình, anh lập ban thờ Phật, ngày ngày gõ mõ tụng kinh. Thờ Phật, song nhà sư Tô Thắng thờ cả "Ông ba mươi" (tức ông Hổ).
Anh cũng không quên dành hẳn một ban đặt bát hương thờ vong linh những người đồng hương xấu số nằm lại đây và hương khói cho phần mộ của họ. Tiếng lành đồn xa, dần dà ban thờ nhà Tô Thắng được dân quanh vùng tới chiêm bái và công đức. Tiền công đức anh dành hết vào tu bổ xây cất các ban thờ. Ngôi nhà trở thành ngôi chùa tự lúc nào.
Nhà sư Tô Thắng viên tịch ở tuổi 53. Cái chết của ông cũng để lại lắm giai thoại thực hư. Người bảo: Ông chết khi ngồi Thiền ở ngay chỗ bờ suối nơi ông đã đánh đuổi con hổ cứu người ngày trước (mà sau này người ta mới biết người đánh hổ hồi đó là ông).
Người lại bảo: Ông chết bởi cái vuốt hổ, một kỷ vậy mang trên cổ từ ngày săn bắt hổ ở rừng châu Phi. Ông ngã không biết bằng cách nào, mà cái vuốt hổ đâm vào ức, rồi vết thương nhiễm trùng phát bệnh. Thể theo nguyện vọng của người quá cố, người ta chôn cất nhà sư trụ trì ngay vườn sau ngôi chùa.
Từ đó, ngôi chùa có cái tên chùa "Tây đen" là thế chăng? Khi tôi hỏi chị Nhị về điều này, thì chị cũng không rõ. Chị chỉ bảo, ngôi chùa mà hai chị em tôi vừa vào thắp hương chính là chùa Tây đen đấy. Và chị cho biết, sắp tới chùa sẽ có một vị sư nữ về trụ trì. Phần chị, cuối năm, hết hợp đồng công việc với ủy ban xã, chị cũng xin ra ăn mày cửa Phật. Đã đến cái tuổi "già vui chùa" rồi.
Tôi bỗng đứng lặng người. Phải, tôi đang nghĩ về một ngôi chùa, về một cõi tâm linh, ở đó có đức tin và lẽ vô thường, mà con người phải đánh đổi (kể cả đánh đổi thứ đức tin ngộ nhận) mới có, đang tồn tại hiện hữu, dù là ở một nơi nào xa xôi trên trái đất này.
Hải Dương, 5/2009

