Gốc vải già bên bờ rào đá
Tôi nhận công tác ở Cao Sơn vào đầu tháng 3/2025, khi vừa thực hiện mô hình Công an địa phương hai cấp. Con đường hun hút xuyên qua những cánh rừng nguyên sinh, một bên là núi cao, bên kia là vực thẳm.
Tháng ba, hoa rừng đua nở, có những cây thân gỗ hoa vàng nở vàng rực cả một bìa rừng. Rừng nghiến cổ thụ bạt ngàn màu xanh thẫm. Trời đã lập xuân, nhưng trên đỉnh Pé Tầu, gió vẫn ngun ngút buốt. Tôi đưa mắt nhìn xuống, trung tâm xã Cao Sơn là con đường ngoằn ngoèo nhỏ xíu như sợi chỉ loang loáng. Những ngôi nhà cũng bé xíu ẩn hiện trong sương. Cao Sơn như một lòng chảo, giữa bốn bề thăm thẳm rừng.
1. Cao Sơn khi chưa sáp nhập là một miền xa thẳm, gian khó nhất huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn, chỉ 6 thôn với 925 người Tày - Nùng gắn bó. Mùa đông Cao Sơn dài lắm, kéo từ tháng mười đến tận tháng tư âm lịch, sương muối rớt như sao, mưa phùn mịt mù lạnh buốt. Lạnh đến nỗi cỏ cây khô quắt lại, rừng bạc vì hạn và gió.
Nước ở Cao Sơn lấy từ các khe trên đỉnh núi dẫn về, đến mùa đông nhà nhà phải đi thật sâu vào trong núi, chở từng can nước về nấu ăn. Thiếu nước, dân Cao Sơn chỉ cấy mỗi năm được một vụ lúa nhờ mưa hạ. Không có nước, nên trồng đậu lạc, trồng gừng với dong riềng, nhưng đất bạc màu củ lên cằn cỗi. Nhưng hết mùa đông, mưa lại ngập trắng đồng, rồi trút sạch hang đá Khau Cà.
Người già Cao Sơn từng đi tìm đường đi của nước, lấy bao trấu đổ xuống cửa hang, nước cuốn trấu trôi vào lòng đất, mấy ngày sau mới thấy vỏ trấu trôi trên suối Nà Cáy cách bản mười mấy cây số. Nước theo con suối nhỏ men theo các dãy núi hòa vào Sông Cầu đoạn xã Mỹ Thanh rồi chảy về Thái Nguyên.
Có những mùa hè, mưa ngập cả cánh đồng Lủng Cút, ngập sâu đến vài chục mét, mấy chục héc ta chìm trong nước cả tháng trời. Cánh đồng nước xanh thăm thẳm, soi gương giữa cánh rừng đại ngàn. Nhưng rồi nước lại trút cả xuống hang đá, bỏ lại cánh đồng vàng úa, xác xơ. Năm ấy cả thôn Lủng Chuông thất thu, chả thu hoạch được gì, cả thôn thấp thỏm lo bị đói.
Ở Cao Sơn, những gốc vải rừng cổ thụ đứng thẳng gọi trời, thân to mấy người ôm, cành lá xum xuê tỏa bóng. Các cụ bảo từ khi tóc còn để chỏm đã thấy "cụ vải" sừng sững như thế. Mùa xuân, vải trổ hoa trắng tím cả một góc rừng, gọi bướm, gọi ong, gọi chim về. Tháng ba rộn ràng tiếng chim, rồi lắng lại khi hè đến, vải chín đỏ như thắp lửa trên cao. Chim non đủ cánh lại theo bố mẹ bay đi, cứ đến rồi đi.
Người già nói "cụ vải" sống mấy trăm năm, hút linh khí đất trời nên có linh, trẻ con không dám trèo bẻ. Tôi nghĩ vì cây quá cao, lời dặn ấy để giữ an toàn. Dù tin theo cách nào, "cụ vải" vẫn đứng đó qua bao đời, lặng lẽ chứng kiến yêu thương, sinh nở, và những cuộc tiễn đưa trở về với đất. Bao quanh nhà sàn, ruộng nương là bờ rào đá xếp từ đá núi quanh bản, viên nhỏ xen viên lớn, chắc chắn mà tiết kiệm. Bờ rào giữ đất, ngăn thú dữ, chống xói mòn, âm thầm như một lời thề với núi rừng. Người Cao Sơn đi xa nhớ bản làng là nhớ gốc vải cổ thụ, nhớ bờ rào đá. Thấy vải, thấy bờ rào đá là thấy quê hương.
2. Đến Cao Sơn, tôi thấy những ngôi nhà sàn san sát lợp ngói âm dương, nhà với nhà chỉ cách nhau một bờ rào đá. Có những căn nhà cổ ngót trăm năm, truyền từ đời cụ sang ông bà, bố mẹ rồi con cháu. Giữa nhà sàn là bếp lửa đỏ bốn mùa, thứ lửa không bao giờ tắt. Mùa đông, nhà nhà đốt lửa suốt đêm để xua cái lạnh.
Có những ngày nhiệt độ chỉ còn vài độ, sương muối và mưa phùn bám riết, đêm nằm trong nhà sàn gỗ đã bưng kín ván vẫn lạnh tái tê. Sáng sớm, sương muối phủ kín cành cây, bãi cỏ, phủ lên mọi vật một lớp trắng mong manh. Đêm mùa đông yên tĩnh, chỉ có gió vi vu và thỉnh thoảng tiếng chim lạ kêu thất thanh xé toạc bóng tối, rồi Cao Sơn lại chìm vào tĩnh mịch và lạnh cóng.
Để chống lại cái lạnh ấy, người dân uống rượu. Rượu ngô nấu từ nước khe núi, từ hạt ngô trên nương, ủ men lá rừng hàng tháng trời. Thứ rượu không trong vắt như nơi khác, mà đục tựa sương, tựa mây bốn mùa lởn vởn bao phủ bản làng. Đưa lên mũi là mùi thơm nồng níu bước khách đường xa. Khách đến nhà được mời rượu nhưng không ép.
Chén rượu xuất hiện trong lễ tết, cưới xin, ma chay, trong chuyện vui hay chuyện buồn, hoặc đơn giản là có người ghé thăm. Hàng xóm, anh em gặp nhau quây quần bên bếp lửa, bên chén nước chè, bên đĩa lạc luộc. Rượu làm ấm người, làm liền mạch những mối thân tình. Uống xong ai về nhà nấy, ngủ ngon, không cãi cọ. Hôm sau lại trở về với ruộng nương, với công việc thường ngày.
Tôi đã được mời rượu ở Cao Sơn, bên nhà sàn, bên bếp lửa bập bùng, nếm thứ "nước đặc sản" của núi rừng. Uống một lần là nhớ, ngồi một lần là không quên. Nó nồng nàn, ấm áp, như tình người và như nhịp sống nơi đây: yên bình, giản dị, đầy nghĩa tình. Người Cao Sơn uống quen rượu, sống quen bản làng, đi xa là nhớ, và dù đi đâu cũng muốn trở về, để được sống chậm lại, được hít thở bầu không khí trong lành giữa bao gian khó.
3. Cao Sơn có chợ phiên, một phiên chợ đặc biệt. Tôi đã đi nhiều chợ miền núi, nơi nào cũng đông vui, sầm uất, bán đủ thứ thượng vàng hạ cám, vừa là sinh hoạt văn hóa, vừa là điểm du lịch. Chợ phiên Cao Sơn thì vắng tất cả những điều ấy, vắng đến đìu hiu.
Chợ họp vào ngày 3 và ngày 8 âm lịch, ở thôn Khau Cà, ngay lề đường tỉnh lộ 253B. Mỗi phiên chợ giống như một khoảng thời gian ngắn được đặt xuống giữa núi rừng rồi vội vã nhấc lên. Ngày chợ chỉ có một hàng thịt lợn, hai quán bánh cuốn, một hàng đậu phụ, vài xe tải nhỏ từ bên ngoài vào bán quần áo, vải vóc, dao, cuốc, xẻng. Quần áo may công nghiệp, bán cho những người thu nhập thấp. Vài mớ rau của các mẹ, các chị hái từ vườn nhà mang ra. Không có sa nhân, ba kích, nhân sâm, không có những quà quý của núi rừng như ở các phiên chợ khác.
Đông vui nhất là hàng chè thập cẩm, mười nghìn một cốc. Các bà, các mẹ, các chị đứng quây tròn quanh quán, ăn chè tại chợ vì mỗi phiên chỉ có một lần, rồi mua thêm mang về cho người già, trẻ nhỏ. Cô bán chè xinh tươi, môi đỏ như son, tay thoăn thoắt múc chè, nụ cười mở ra nhanh như nắng sớm. Chợ bắt đầu lúc sáu giờ sáng và kết thúc lúc tám giờ.
Hai tiếng đồng hồ đủ để người ta mua bán, gặp gỡ, ăn vội một cốc chè, nói vài câu chuyện ngắn, rồi tản ra. Mọi thứ diễn ra nhanh, gọn, như thể ai cũng sợ lỡ mất phần thời gian còn lại của ngày. Người mua tranh thủ mua, người bán tranh thủ bán, rồi ai cũng vội trở về ruộng nương. Nhà nào có điều kiện thì mua được cân thịt lợn mang về cấp đông, làm món mặn cho cả tuần.
Tôi trèo lên một ngọn núi nhỏ, mây mỏng lởn vởn ngang tầm mắt. Khi chợ đã tan, vài người buôn chuyến uể oải dọn quần áo lên xe tải thùng, lẩm bẩm: "Chợ phiên nay bán hàng chưa đủ tiền dầu". Người về hết, trên mặt đất chỉ còn lại cỏ dập và dấu chân. Nếu không nói, sẽ không ai biết vừa có một phiên chợ miền núi diễn ra ở đây. Nền đường đất đỏ lại trống trải, bình yên như chưa từng có điều gì xảy ra.
Cả xã Cao Sơn cũng chỉ có vài cửa hàng tạp hóa nhỏ, bán bánh kẹo, vài thứ đồ dùng thiết yếu. Cũng vắng, cũng lặng, giống như phiên chợ vừa trôi qua trong chớp mắt. Dù vậy, chợ phiên vẫn là ngày được chờ đợi nhất trong tuần, bởi trong hai tiếng ngắn ngủi ấy, thời gian dường như co lại, để người ta biết mình vẫn còn một điểm hẹn chung, trước khi mọi thứ lặng lẽ đổi thay.
Sau ngày 1/7/2025, xã Cao Sơn sáp nhập cùng Sỹ Bình và Vũ Muộn thành xã Vĩnh Thông, tỉnh Thái Nguyên. Các cơ quan chuyển ra trung tâm, Cao Sơn vốn vắng nay càng vắng hơn. Tối đến, khoảng hai mươi giờ, nhà nhà đã tắt đèn, chỉ còn ánh lửa bập bùng bên những ngôi nhà sàn lợp ngói âm dương xua cái lạnh núi rừng.
Những dãy núi đá vẫn sừng sững, rừng gỗ nghiến cổ thụ vẫn nghiêng bóng xuống lòng chảo Cao Sơn. Sương mù, mây trắng vởn vơ bốn mùa. Người dân vẫn lam lũ ra đồng, lên nương. Xuân về bớt lạnh, ruộng thuốc lá xanh mướt mang theo hy vọng vụ mùa. Người dân mong mưa thuận gió hòa, mong lá thuốc phơi khô vàng óng như mật ong để bán được giá. Trồng xong thuốc lá, họ lại lên nương trồng lúa, trồng ngô, trồng dong riềng.
Chiều xuống, tiếng mõ trâu lốc cốc vọng từ rừng xa. Cây vải cổ thụ nhú chồi, bờ rào đá nở hoa dại, bản làng lặng lẽ đón xuân. Cuộc đời người lính quen đón tết xa nhà. Năm nay, tôi đón xuân ở Cao Sơn. Mùa xuân ở bản.
