Thành cổ Quảng Trị và ký ức về “Một thời hoa lửa”
O Lệ chỉ tay vào tấm ảnh o cùng đồng đội rồi nói về những người trai Bắc vào Thành Cổ mà o được “gặp” khi qua sông: “Ai cũng trẻ, tươi vui như đi hội, nói cười rổn rảng, tui có thấy mặt mô, chỉ nghe tiếng thôi, cho đến khi vô được Thành”.
Bất ngờ tôi được gặp cựu chiến binh Nguyễn Văn Thành khi ông đang tay bắt mặt mừng với o du kích vùng ven Thành Cổ - Phan Thị Lệ trong đêm lễ hội cầu truyền hình “Một thời hoa lửa”. Ông Thành từng là lính của Trung đoàn Thạch Hãn (Trung đoàn 48 anh hùng) hiện nghỉ hưu tại Thanh Hóa.
Tôi nói với ông rằng: “Cháu nghe kể lại cuộc chiến khốc liệt đến mức không một mảng tường nào còn nguyên vẹn, thậm chí không còn viên gạch nào nguyên vẹn, vậy mà chú đã được trở về. Chú có cho rằng mình may mắn?”. Ông nói hối hả như sợ không kìm nổi xúc động: “Chú thật may mắn khi được trở về. Đồng đội hy sinh nhiều quá. Toàn trẻ cả cháu ạ. Mười chín, đôi mươi thôi. Không thể tính được đâu. Chỉ có đất Thành Cổ và dòng Thạch Hãn mới biết bao nhiêu anh em mình nằm lại. Con sông Thạch Hãn - mùa mưa này nước dâng cao lắm...’’.
Những ngày cuối mùa hè năm 1972 đỏ lửa ấy, Quảng Trị trời mưa rất to, nước ngập ngang người, quân ta, quân địch quần nhau trong nước. Nước sông Thạch Hãn gầm réo, sôi lên sùng sục. Những chiến sĩ của ta vượt sông vào Thành Cổ và cả những người bị thương được đưa về tuyến sau, vậy nhưng rất nhiều người đang bơi giữa dòng thì pháo địch chụp xuống, vang lên trên dòng sông có cả tiếng gọi mệ thảng thốt của những người lính trẻ. Và mãi mãi “Đáy sông còn đó bạn ta nằm/ Có tuổi hai mươi thành sóng nước/ Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm” như một nhà thơ đã viết.
Tôi gặp o Lệ - nữ du kích vùng ven Quảng Trị thời đó cùng con trai trở về Thành Cổ trong đêm hội. Năm tháng và sự khốc liệt của mưu sinh vẫn không làm cho khuôn mặt duyên dáng của o thôi cười. 17 tuổi, o Lệ xung phong vượt sông Thạch Hãn đưa bộ đội vào Thành Cổ. Ai cũng cản: “Vô đó chắc chết, không đi được mô”.
O nói: “Dù răng tui cũng biết thị xã Quảng Trị dọc hay ngang, chớ mấy anh bộ đội mần răng biết được. Tui phải đi thôi’’. Và trong đoàn quân vượt sông hôm đó còn có phóng viên chiến trường Đoàn Công Tính. O Lệ kể:
- Qua sông có nghĩa là cầm chắc cái chết, có thể không bao giờ còn về được nữa, chú nhà báo hỏi lại tui và chị Hảo lần nữa để xác định tư tưởng: “Có quyết tâm đi không?”. Cả hai nói: “Đi, nếu chết thì ở mô mà không chết’’. Rứa là đi. 12 giờ đêm rồi mà chưa qua được sông, chú nhà báo nóng ruột lắm. Chú ấy quyết định vượt sông. Nằm trên phao tui nghe người chỉ huy một đơn vị bộ đội đang vượt sông cùng mình ra lệnh: “Bằng mọi giá phải đưa hai nữ du kích cùng đồng chí phóng viên sang được bờ bên kia”. Qua sông, đến hầm chỉ huy trung tâm, đợi trời sáng. Sáng hôm sau, nhảy lên khỏi hầm là bọn tui bắt đầu chạy, tui và Hảo chạy trước, bộ đội chạy sau, đến những điểm có thể chọn làm công sự được thì từng tiểu đội bộ đội dừng lại, còn bọn tui lại chạy tiếp để tìm kiếm thương binh, để làm tất cả những việc gì có thể làm được lúc bấy giờ.
O Lệ chỉ tay vào tấm ảnh o cùng đồng đội đứng trước mảng tường nham nhở còn sót lại của Thành Cổ, chỉ vào đôi chân chỉ còn một chiếc dép của mình! O nói về những người trai Bắc vào Thành Cổ mà o được “gặp” khi qua sông: “Ai cũng trẻ, tươi vui như đi hội, nói cười rổn rảng, tui có thấy mặt mô, chỉ nghe tiếng thôi, cho đến khi vô được Thành”.
Tôi hỏi o: “Khi vượt sông qua bên nớ (vào Thành Cổ), bom đạn là rứa mà o không sợ à?’’. O cười giọng nhẹ nhàng: “Lúc nớ pháo chùm, pháo bầy, pháo sáng, răng mà hắn chừa tui ra. Với lại nếu ai cũng sợ thì làm răng ta thắng nổi”. O Lệ nhớ lúc đó o không hiểu vì sao chú nhà báo (phóng viên Đoàn Công Tính) lại phải vào tận Thành Cổ để chụp ảnh. Phóng viên Đoàn Công Tính đã giảng giải cho Lệ hiểu và o chỉ có một yêu cầu nhỏ thôi là: “Nếu tất cả còn sống thì khi về Hà Nội chú nhớ phóng cho cháu một tấm ảnh thiệt to để làm kỷ niệm về thời thanh niên sôi nổi của cháu”. Và bây giờ họ đã gặp nhau, rất nhiều lần và lần nào cũng nghẹn ngào, cũng vui. O Lệ nhìn những tấm ảnh và thấy tuổi xuân của mình trong đó, cùng những dấu tích của 81 ngày đêm bão lửa.--PageBreak--
Theo các tài liệu còn lưu lại thì để tái chiếm thị xã Quảng Trị, đạt được âm mưu xảo quyệt về chính trị, quân sự và ngoại giao… tướng Ngô Quang Trưởng - Tư lệnh Vùng I chiến thuật ngụy tuyên bố: “Đồng minh sẽ sử dụng tối đa hỏa lực không quân và pháo binh để nghiền nát Cổ thành Quảng Trị”.
Người ta đã khái quát rằng trong lịch sử chiến tranh hầu như chưa có một trường hợp nào để đánh chiếm một tòa thành cổ có chu vi hơn 2.160m mà người ta lại sử dụng một lực lượng Hải - Lục - Không quân đông và một khối lượng chất nổ khổng lồ như vậy. Báo chí phương Tây bình luận và so sánh số bom đạn Mỹ ném xuống Quảng Trị khoảng 328 nghìn tấn tương đương với sức công phá của 7 quả bom nguyên tử mà Mỹ ném xuống Hirosima và Nagasaki (Nhật Bản) trong Chiến tranh thế giới thứ II…
Tôi bần thần đi trong nghĩa trang liệt sĩ thị xã Quảng Trị - nghĩa trang gần như chỉ dành cho những người chiến sĩ đã chiến đấu và hy sinh cho Quảng Trị trong 81 ngày đêm bão lửa. Người dân nơi đây quen gọi nghĩa trang này là nghĩa trang Thành Cổ. Một nghĩa trang chỉ có hơn 400 ngôi mộ có tên và chưa có tên, tọa lạc trên đồi cao lộng gió. Nằm yên nghỉ ở đó, các anh có thể nhìn thấy Thành Cổ yên bình đang từng ngày đổi sắc thay da nghiêng mình bên dòng Thạch Hãn huyền thoại để nhớ về thuở đôi mươi các anh đi đánh giặc. Chỉ chừng đó thôi, còn tất cả vẫn lặng yên trong đất. Mảnh đất mà người Quảng Trị tâm niệm “mỗi mét vuông đất là một mét vuông máu’’. Mảnh đất hơn hai cây số vuông mà có hơn 10 ngàn bộ đội ta nằm lại. Hỏi có nơi đâu cái giá của hòa bình đắt đến như vậy.
Bây giờ cỏ đã xanh trên Thành Cổ thanh bình, nhưng để có sự bình yên của hôm nay, tại nơi công trình kiến trúc cổ này, mỗi ngày trung bình một chiến sĩ của ta phải hứng chịu trên 100 quả bom, 200 quả đạn pháo. Bốn bức tường thành bốn phía của Thành cổ Quảng Trị dày tới 12m đổ sụp bởi đạn pháo và những sang chấn của nó.
Tôi lần theo những bức ảnh, những hiện vật trong nhà bảo tàng Thành Cổ, thành kính và ngưỡng vọng. Những khuôn mặt của tuổi hai mươi hơn ba mươi năm về trước, mà khi ngã xuống “Họ đâu mong được phong anh hùng và có hoa tươi trên mộ’’ mà “Họ chết vì lẽ công bằng và nhân phẩm”. Tôi như gặp lại một Phan Văn Ba nát một bàn tay vẫn xin ở lại trận địa, một Hán Duy Long dùng trung liên kẹp nách truy kích địch, diệt 58 tên, 3 lần bị thương vẫn giữ vững trận địa.
Ở đó, mảnh đất nhỏ bé thiêng liêng bên dòng Thạch Hãn hiền hòa - nơi một thế hệ tuổi hai mươi nằm lại. Ở đó một thế hệ thanh niên đã được tôi luyện thành thép. Nhưng người ta đã nói rất nghiêm trang rằng không thể ví những người trai Việt kiên cường ấy là thép, bởi thép có thể chảy ra trong lửa. Còn các anh - những chiến sĩ của 81 ngày đêm giữ thành Quảng Trị, họ đã làm nên một Thành Cổ oai hùng rung động khắp năm châu
