Rakét và "racót" Việt Nam
Rakét là gọi theo từ Raketa của tiếng Nga có nghĩa là tên lửa - tên lửa bằng sắt thép có chất đốt, đầu đạn, thuốc nổ cực mạnh, điều khiển bằng khí tài điện tử. Tên lửa nói ở đây được chế tạo từ Liên Xô. Còn "racót" là từ tiếng Việt được sáng tạo theo cách đọc na ná giống từ rakét cũng là tên lửa, nhưng là tên lửa giả, làm toàn bằng cót, bằng tre, không có thuốc phóng, thuốc nổ, đầu đạn.
Có điều lý thú là cả hai loại rakét và "racót" này ở Việt Nam hồi cuối tháng 7/1965 làm cho Lầu Năm Góc và Nhà Trắng “lạnh người”, hốt hoảng. Hốt hoảng tới mức Tổng thống Mỹ Giônxơn phải bỏ đợt nghỉ, tức tốc bay về Nhà Trắng mở cuộc họp Hội đồng an ninh quốc gia.
Đấy là khi tên lửa phòng không của ta bất ngờ ra quân đánh thắng trận đầu. Trận thắng lịch sử này đã diễn ra trên đồi Dự trong rừng Vô Khuy và đồi chùa Ghề bên sông Đà (Hà Tây), nơi hai tiểu đoàn 63 và 64 của Trung đoàn 236 - trung đoàn tên lửa phòng không đầu tiên của quân đội ta đặt những bệ phóng để “nổi lửa” trận đầu. Ở đây sau 3 ngày “lặng tiếng”, khi Trung đoàn trưởng Trần Nhẫn đã chọn đúng thời cơ, quả quyết ra lệnh “đánh”, quả đạn đầu tiên mang số hiệu ILP-246 của Tiểu đoàn 63 đã gầm lên rời bệ phóng. Tiếp theo là quả đạn thứ hai và thứ ba, thứ tư của cả Tiểu đoàn 64 đã như những “con rồng lửa” nối nhau bay vút lên rẽ mây, xé gió cùng lao thẳng vào lũ máy bay Mỹ. Và, trên các màn hiện sóng trong các xe điều khiển, chúng đã được thể hiện bằng những tín hiệu mới loang loáng hướng tới và bám chặt lấy tín hiệu mục tiêu. Chưa đầy 1 phút sau, bằng tài “lái đạn” thông minh, chính xác của hai kíp chiến đấu ở tiểu đoàn 63 và 64, trước mắt hai tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Thân và Nguyễn Văn Ninh và hai sĩ quan điều khiển Lã Đình Chi, Phạm Trương Uy tín hiệu mục tiêu đã tóe ra sáng lóa rồi bị xóa sạch trên màn hiện sóng.
Lúc đó là 15 giờ 53 phút ngày 24/7/1965. Niềm vui tưởng như vỡ tung lồng ngực đã òa ra theo cửa mở các buồng máy và trào dâng trên khắp trận địa. Hai giờ sau đó, những ánh mắt ở đây càng lấp lánh hơn khi có chiếc xe hơi chạy tới bóp còi rộn rã dưới chân đồi chỉ huy. Nó báo hiệu, không chỉ chở về đây những mảnh xác máy bay có gắn nhãn hiệu F4-C mà còn kèm theo Đại úy phi công Mỹ Risoóc Pôncơn, một “bằng chứng biết nói” về trận thắng của tên lửa phòng không ta vừa cách đây hơn 2 giờ.
Xác chiếc máy bay F4 Mỹ bị tên lửa ta bắn rơi đầu tiên cùng viên đại uý phi công Risoóc Pôncơn bị bắt sống trong chiến thắng lịch sử ngày 24/7.
Chiếc máy bay F4-C mang biệt hiệu “Con ma” do Risoóc Pôncơn lái bị tên lửa phòng không của ta bắn rơi trong trận đầu ra quân này càng tăng thêm ý nghĩa, bởi đây là chiếc máy bay Mỹ thứ 400 bị bắn rơi trên bầu trời miền Bắc.

Không nhiều như sau này, tuy chỉ bắn rơi tại chỗ có 1 máy bay Mỹ, bắt sống 1 phi công nhưng chiến công đầu trên đây của Bộ đội Tên lửa phòng không Việt Nam đã làm nức lòng quân dân cả nước ta. Còn với Mỹ như bị sét đánh khi
Tổng thống Mỹ Giônxơn, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mắc Namara và Giônbơớc - người sẽ được cử đi làm Đại sứ Mỹ ở Liên Hiệp Quốc kiêm một vai trò quan trọng trong tấn kịch “Mũi tên và cành ôliu” mà Mỹ dự định sẽ tái diễn tại Việt Nam dừng ngay cuộc họp tay ba ở Trại Đavít. Ngay hôm đó, 25/7/1965. Mắc Namara lên trực thăng về Lầu Năm Góc để tổ chức cuộc điều tra. Giônxơn cũng không còn nghĩ tới chuyện nghỉ tiếp ở Đavít tức tốc bay về ngay Nhà Trắng họp gấp Hội đồng an ninh quốc gia. Sau đó, ông ta chỉ thị cho Đô đốc Grân Sáp, Tổng tư lệnh Mỹ ở Thái Bình Dương, Sư đoàn không quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam cùng Hạm đội xung kích 77 sẵn sàng hành động...
Tại sao chỉ có mấy quả tên lửa của miền Bắc Việt Nam phóng lên và chỉ có 1 máy bay Mỹ bị bắn rơi, 1 phi công Mỹ bị bắt sống mà Lầu Năm Góc và Nhà Trắng đã phải sôi lên như vậy? Bởi vì: Cho đến đầu năm 1965, khi Mỹ chủ trương leo nấc thang cao hơn “vặn sâu hơn nữa mũi khoan vào nội địa Bắc Việt Nam”; Lầu Năm Góc đã tính toán: “Ngoài một nhúm máy bay MiG-17 chưa đạt được tốc độ siêu âm, hỏa lực phòng không Bắc Việt Nam không có gì hơn loại pháo cao xạ cỡ 100mm điều khiển bằng rađa, nếu không lực Mỹ dùng chiến thuật bay vượt độ cao trung bình coi như loại bỏ được hệ thống phòng không của đối phương".--PageBreak--
Với tính toán trên đây, Lầu Năm Góc đã ở thế cờ biết chắc chắn ta chưa có tên lửa phòng không. Thế nên mới coi như đã “loại bỏ được hệ thống phòng không đối phương”, bởi bầu trời Bắc Việt bị hổng, không có lưới lửa tầm cao. Nhưng đến tháng 3/1965, Mỹ đã thất vọng với toan tính ấy khi chúng choáng váng biết chúng ta đã bí mật thành lập được một trung đoàn tên lửa phòng không và được Liên Xô viện trợ tên lửa SAM-2. Trung đoàn tên lửa được bí mật vận chuyển bằng đường xe lửa qua Trung Quốc đến Hà Nội. Và, Mỹ không thể ngờ rằng, sau việc sớm cho xây dựng không quân chiến đấu, với tầm nhìn chiến lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã chỉ đạo cho quân đội ta phải gấp rút xây dựng tên lửa phòng không để miền Bắc sớm có một lưới lửa phòng không hoàn chỉnh.
Tuy vậy, ngày ấy Mắc Namara lại tự vấn an và khẳng định: “Thế là Bắc Việt đã có SAM-2 của Liên Xô. Song dù có thì sớm nhất cũng phải đến năm 1966, họ mới có thể đưa bộ đội tên lửa vào chiến đấu”.
Như vậy, Washington sôi lên bối rối trước "sự kiện ngày 24/7" không phải vì chưa biết miền Bắc ta đã có SAM-2 mà bởi quá lo lắng về sự có mặt cùng với hiệu quả chiến đấu khá cao của SAM-2 ở đây đã là hiện thực, và bởi hai bất ngờ lớn về thời gian và không gian diễn ra sự kiện này.
- Về thời gian: Bằng cách gì mà Hà Nội lại có thể cho tên lửa xuất hiện sớm như vậy? Lầu Năm Góc thừa hiểu loại SAM-2 có tính năng tương tự như loại Naicơ Agiát của Mỹ và muốn sử dụng được nó, Quân đội nhân dân Việt Nam phải để ra ít nhất một năm huấn luyện. Vậy mà đến ngày 24/7/1965, tính ra mới huấn luyện được có hơn 60 ngày, tên lửa phòng không của Bắc Việt đã xuất trận và bắn rơi tại chỗ máy bay Mỹ ngay trận đầu.
- Về không gian: Thật lạ, khu vực chiến đấu của tên lửa phòng không Bắc Việt không phải là ở Hà Nội, nơi đã xây dựng gần 5 trận địa kiên cố, đúng quy cách ở xung quanh thủ đô như Lầu Năm Góc đã đinh ninh. Nó lại diễn ra trên các trận địa dã chiến cách Hà Nội 65 dặm ở vùng rừng núi huyện Bất Bạt, Hà Tây?
Cũng với tư duy ấy nên họ đã đinh ninh: “Nếu xuất trận tên lửa ta phải đặt bệ phóng ở 5 trận địa đã làm sẵn xung quanh Hà Nội. Phải đặt ở đó mới đúng bài bản, mới bảo đảm được kỹ thuật đối với loại khí tài điện tử hiện đại mà họ vừa mới làm quen này”. Tất nhiên cùng đoán định đó, Lầu Năm Góc đã có sẵn kế sách để “ra tay” trước, bởi hàng ngày và ngay sáng ngày 24/7/1965, trên bàn làm việc của tướng Moơ, Tư lệnh Không quân Mỹ ở Nam Việt Nam đã có tấm ảnh mới nhất về các trận địa này do máy bay trinh sát Mỹ vừa mới chụp được. Mỹ đoán định như nắm chắc trong tay, thế nhưng các chiến sĩ lớp con cháu của Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo... thời nay lại cao tay hơn, đã cơ động đưa tên lửa ra bố trí bí mật ở trận địa dã chiến cách xa Hà Nội 65 dặm, nơi các tướng Mỹ hoàn toàn không ngờ tới. Ở đây suốt 3 ngày chờ đợi, ta lại “bịt mắt” được rất tài tình tất cả những tên “mật thám” Mỹ ở trên không. Cùng với việc tạo được thế bất ngờ về thời gian, chính việc ta tạo được thế bất ngờ về không gian này đã là yếu tố rất quan trọng để tên lửa phòng không ta đánh thắng, lập công xuất sắc ngay trận đầu.--PageBreak--
Đấy là chuyện về rakét. Còn chuyện về "racót" Việt
"Racót" đã khởi đầu vào trận ngay chiều 24/7 khi rakét vừa kết thúc trận đánh. Lúc này đang còn náo nức, chưa hưởng hết niềm vui chiến thắng nên cán bộ chiến sĩ hai tiểu đoàn 63 và 64, hầu hết đã không khỏi ngơ ngác trước mệnh lệnh khẩn cấp của trên: Phải cơ động ngay 2/3 toàn bộ bệ, đạn, khí tài sang hai trận địa mới để nhường lại hai trận địa vừa đánh xong này cho hai tiểu đoàn khác”. Vì sao phải như vậy? Trừ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy tiểu đoàn, khi toàn bộ đạn, khí tài đã vượt mưa gió đường trơn vào định vị hết trên trận địa mới rồi, tất cả cán bộ chiến sĩ mới càng hể hả. Hể hả vì biết việc mình đã cơ động thành công này là đã thực hiện được thắng lợi bước đầu ý định tác chiến rất mưu lược và sáng tạo của trên.
Nó nằm trong kế hoạch tác chiến tổng thể, xuất phát từ nhận định của Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân và Bộ Tổng tham mưu: Khi tên lửa phòng không ta đã xuất hiện đánh máy bay Mỹ trên bầu trời miền Bắc, nhất định không quân Mỹ sẽ đánh trả và đánh với mức ác liệt và thay vào đó bằng các tên lửa giả mà anh em gọi vui là "racót" làm toàn bằng tre cót, nhưng hình dáng màu sơn giống hệt như các quả đạn, bệ phóng thật vừa mới rút ra. Song song với việc “nhử mồi” đánh lừa địch bằng hai trận địa "racót" ấy. Quân chủng đã giăng một “cái bẫy” lớn bằng 120 nòng pháo cao xạ từ 37 đến 100mm tương đương lực lượng 3 trung đoàn cùng hàng trăm nòng súng tầm thấp của dân quân tự vệ Hà Tây được bố trí liên hoàn rất lợi thế xung quanh hai trận địa giả để đón chờ các “sứ giả” Hoa Kỳ.
Quả đúng như dự đoán của ta. Ngày 27/7, đích thân Tổng thống Mỹ Giônxơn ra lệnh cho không quân Mỹ “đánh trả đũa, hủy diệt hai trận địa tên lửa Bắc Việt”. Mỹ đã tung vào “trận trả đũa” này 50 máy bay, trong đó ngoài 36 chiếc cường kích F-105 trực tiếp oanh tạc, còn có cả máy bay tiếp dầu, máy bay trực thăng cứu phi công và máy bay AD-6 hộ tống trực thăng. 36 chiếc F-105 “Thần sấm” từ Thái Lan bay sang. Để tránh rađa của ta phát hiện được từ xa, từng đội hai chiếc “Thần sấm” bay cực thấp trông to như chiếc thuyền đinh lao thẳng vào hai trận địa cũ ở đồi Dư và đồi Ghề. Trận chiến đã diễn ra rất ác liệt. Những tên phi công Mỹ đã lăn xả vào và chắc chúng đã rất khoái chí khi thấy những bệ phóng, những xe điều khiển tên lửa của Bắc Việt đang bị phá hủy, bốc cháy bởi những trái bom của chúng vừa ấn nút thả xuống. Nhưng ngay sau đó, chúng đã nhận ra, hôm nay chúng phải chui vào “bẫy lửa” khổng lồ đã đợi sẵn. Ngay từ phút đầu, các nòng pháo phòng không và hàng trăm tay súng tầm thấp của ta đã đồng loạt nhả đạn. Cả vùng trời Bất Bạt sôi lên rừng rực như biển lửa. Không một máy bay Mỹ nào vào đây không bị đánh trả. Chúng bay cực thấp cũng không tránh khỏi bị trừng phạt, bởi bộ đội ta đã bạt thấp công sự, hạ sát nòng pháo xuống để nhả đạn.
Kết quả trận trả đũa rất quyết liệt này, không quân Mỹ quả đã đánh đúng và hủy diệt được toàn bộ hai trận địa tên lửa SAM-2. Nhưng buồn thay cho Giônxơn đấy lại là “SAM-2 racót”. Còn ta bằng “bẫy lửa” này đã thiêu cháy, bắn gục tại chỗ thêm 5 máy bay Mỹ. Và, sau Risoóc Pôncơn, “khách sạn Hintơn, Hà Nội” của ta lại được đón thêm 3 vị “khách" Hoa Kỳ từ trận “pháo hoa kỳ lạ” ngày 27/7 này.
Sau chiến công đầu vẻ vang, Bộ đội Tên lửa phòng không của ta đã lập tiếp bao chiến công xuất sắc, bắn rơi 843 máy bay Mỹ trong đó có 57 chiếc B-52, là lực lượng nòng cốt làm nên trận “Điện Biên Phủ trên không” năm 1972 và rất vinh dự là binh chủng đầu tiên của Quân đội ta được tuyên dương đơn vị Anh hùng LLVTND. Đã có biết bao kỷ niệm đẹp trong những năm tháng hào hùng ấy. Nhưng kỷ niệm về trận đầu ra quân với chuyện “rakét”, "racót" thể hiện rất tài trí nghệ thuật quân sự Việt Nam này mãi mãi không quên, mãi mãi là niềm tự hào của cán bộ chiến sĩ Phòng không - Không quân
