Kỷ niệm 40 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968

Ký ức không phai

Thứ Ba, 19/02/2008, 10:00
Lần giở lại những trang nhật ký, trang báo cũ đã ố vàng vì thời gian để nhớ lại những tháng ngày Mậu Thân 1968 sôi sục, tôi càng bồi hồi nhớ và tiếc thương các anh, các bạn đã mãi mãi nằm lại trong đất chiến trường xưa.

"31/1/68

"Giờ X" đã điểm rồi! Sài Gòn và 40 thị xã, thị trấn, thành phố đã nhất tề tấn công Mỹ - ngụy từ nửa đêm và rạng sáng nay.

Suốt từ trưa đến giờ anh chị em trong cơ quan reo hò rộn rã. Máy thu thanh không lúc nào im tiếng.

Đêm nay, sáng mai và những ngày sau đó chắc chắn là còn nhiều tin phấn khởi gấp nhiều lần hơn.

Có cái lạ là tin vui dồn dập quá mình lại không thể viết ra lời.

2/2/68

Tối hôm qua mọi người đã được nghe Đảng ủy truyền đạt lệnh tổng công kích, tổng khởi nghĩa. Cả khu rừng như lung linh hẳn lên.

Tình hình thì khẩn trương như vậy mà ở cơ quan văn nghệ này có vẻ rỗi rãi quá. Ai cũng thấy cần làm một việc gì đấy nhưng không lẽ như một dàn nhạc ai muốn chơi nhạc cụ nào ra sao thì cứ tự mình biểu diễn sao? Cần phải có một sự lãnh đạo, cần phải có một phương án tác chiến. Lãnh đạo ở đây chậm quá. Tối nay họp chi bộ mình sẽ nói.

Chiều nay nhận được thư cả nhà. Đúng đêm tổng công kích mình đã viết thư về nhà và linh cảm thấy trước sẽ có sự kiện rung trời chuyển đất ở chiến trường miền Nam vào lúc chuyển sang năm mới".

Cuốn sổ nhật ký khổ 9x12cm ghi những dòng trên tôi còn giữ được có "tuổi đời" đã hơn bốn mươi. Qua bao lần chịu trận B52, pháo bầy, bom trộm ở căn cứ và ở mọi nẻo đường chiến trường cùng chủ, nó vẫn "sống sót" cho đến hôm nay.

Giờ đây nó đang giúp tôi hồi tưởng lại cả một thời sôi nổi ở chiến trường Nam Bộ hồi Mậu Thân 1968. Nhiều, rất nhiều niềm vui, niềm tự hào còn đó và cũng đọng lại mãi trong tôi bao niềm thương, nỗi nhớ và cả những đau đớn, xót xa mỗi khi nhớ lại chiến trường xưa và đồng đội thân yêu của mình.

Tôi còn nhớ mãi đêm giao thừa đón xuân Mậu Thân 1968 đặc biệt ấy. Cả cơ quan Hội Văn nghệ Giải phóng hầu như chẳng ai ngủ được. Rừng miền Đông khô hanh và hơi se lạnh lúc về khuya.

Mọi người quây quần bên nhau nghe Bác Hồ chúc Tết và thơ chúc Tết của Bác: "Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua/ Thắng trận tin vui khắp nước nhà/ Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ/ Tiến lên toàn thắng ắt về ta!" qua làn sóng điện của Đài Tiếng nói Việt Nam.

Giao thừa đã qua lâu rồi mà anh chị em trong toàn cơ quan vẫn ngồi chờ đợi và đoán già đoán non: "Có lẽ giờ G sắp đến rồi". Cả giờ đồng hồ Đài Tiếng nói Việt Nam liên tục phát những bài hát về Trường Sơn, về các chiến sĩ giải phóng quân...

Anh chị em lại đoán: "Có lẽ đây là mật mã về giờ G". Một số anh em "táy máy" dò Đài Sài Gòn từ sau nửa đêm và phát hiện: Đài Sài Gòn hình như đã dừng phát nên không bắt được tín hiệu.

Gần sáng, cả cơ quan như bừng lên với tiếng hò reo, tiếng đàn hát, tiếng radio mở hết cỡ để đón cái tin: Quân giải phóng đã mở đợt tổng tấn công vào Sài Gòn và các đô thị trên toàn miền Nam!

Bầu trời khu căn cứ đêm ấy hoàn toàn im tiếng máy bay của Mỹ đi trinh sát và ném bom trộm hàng đêm trước đó. Máy phát điện nhỏ của cơ quan được khởi động. Điện sáng tưng bừng cả hội trường, ai nấy hát đến khản cả giọng các bài "Giải phóng miền Nam", "Tiến về Sài gòn"... Không khí tưng bừng náo nhiệt kéo dài cho đến mấy ngày sau.

Súng đã nổ rồi, Sài Gòn ơi!
Ngực ta rung theo tiếng súng bồi hồi

Nhà thơ Lê Anh Xuân đã ghi lại rất đúng tâm trạng của anh chị em đang còn ở lại căn cứ, chưa được xuống đường để trực tiếp góp sức mình cho cuộc tổng tấn công vào Sài Gòn lúc bấy giờ. Bởi vì: "Đây là cuộc hành quân cả nước/ Đội ngũ ta dài suốt bốn ngàn năm/ Đây là trận tấn công ta mong ước - Từ những đêm ngủ đất, ngủ hầm".

Lê Anh Xuân viết bài thơ "Mùa xuân Sài Gòn/ Mùa xuân chiến thắng" ngay sau đêm biết tin quân ta tổng công kích Sài Gòn. Anh đã gặp lãnh đạo cơ quan cho anh được đi tham gia chiến dịch. Không chỉ mình Lê Anh Xuân "đòi" như vậy mà hầu như tất cả anh chị em làm công tác văn nghệ trong cơ quan.

Các văn nghệ sĩ tại tòa soạn Báo Văn nghệ Giải phóng ở căn cứ Tây Ninh (1965). Từ trái qua, hàng đầu: Anh Đức, Lưu Hữu Phước, Bùi Kinh Lăng, Nguyễn Văn Bổng. Hàng sau: Lý Văn Sâm, Lê Anh Xuân và Từ Sơn (ngoài cùng bên phải).

Gần đây, trong cuốn hồi ký "Sống và viết ở chiến trường"(Nxb Hội Nhà văn, 2004) nhà thơ Giang Nam đã tiết lộ: "Anh Sáu Lăng (tức Bùi Kinh Lăng - Phó trưởng Tiểu ban văn nghệ thuộc Ban Tuyên huấn Trung ương cục - NV) nói riêng với tôi: "Nhiệm vụ anh chị em văn nghệ sĩ chỉ thực sự bắt đầu khi bộ đội và các lực lượng chiến đấu khác của ta đã dứt điểm, làm chủ tình hình.

Lúc đó sợ không đủ sức mà phục vụ đồng bào, bộ đội, không đủ sức viết lại chiến công của anh chị em. Bây giờ đi sớm lỡ bom đạn nó "xơi tái" các cậu ấy, mất hết vốn thì làm ăn gì nữa". Sở dĩ tôi nhắc lại điều ấy vì lúc đó tôi là trưởng ngành văn và vì trong các anh chị em tha thiết muốn xin đi tiền phương có Lê Anh Xuân (tức Ca Lê Hiến) nhà thơ trẻ tài hoa của chúng ta".

Trước khi có cuộc Tổng tấn công Mậu Thân chúng tôi đã đoán già, đoán non rằng: Chắc sắp có "chuyện lớn" xảy ra. Nào là anh Nguyễn Văn Bổng được anh Trần Bạch Đằng điều vào nội thành Sài Gòn công tác xây dựng lực lượng văn nghệ ở đô thị. Nào là anh Hồng Châu (tức Thép Mới) trước ngày tổng tấn công không lâu đã được bí mật đưa vào nội thành để cơ sở trong đó đưa đi quan sát các vị trí ta sẽ tấn công như sứ quán Mỹ, đài phát thanh, dinh Độc Lập, tổng nha cảnh sát v.v...--PageBreak--

Sát ngày tổng tấn công, lãnh đạo Ban Tuyên huấn đã điều khá nhiều thanh niên cơ quan đi "công tác đặc biệt" với súng ống đầy đủ, lại còn mang cả Đài phát thanh lưu động và - thật là đặc biệt - một số đồng chí còn được giao mang theo cả "bòng" (balô) đôla Mỹ…

Vậy mà đại bộ phận lực lượng văn nghệ lại phải trụ lại căn cứ - trừ ba anh: Nguyễn Quang Sáng, Lê Văn Thảo, Hoài Vũ được may mắn đi theo những đơn vị vũ trang xuống tiền phương nằm phục sẵn ở vùng phụ cận Sài Gòn.

Ngoài ba anh, một số anh làm công tác quay phim, nhiếp ảnh cũng được "ưu tiên" đến tiền phương khá sớm. Nhờ vậy mà trong kho báu tư liệu về Tổng tấn công Mậu Thân 1968 chúng ta còn lưu giữ được một số hình ảnh và nhiều thước phim ghi hình trực tiếp tại vùng ven và ngay cả trên một số đường phố ở nội đô Sài Gòn lúc quân ta mở đợt tấn công hồi đó.

Cánh "dân sự" coi như chưa xuất hết lực lượng cho tiền phương lúc ấy. Chúng tôi có lúc đã "ghen tị" với bên cánh Văn nghệ Giải phóng. Các nhà văn quân đội như Nguyễn Thi (Nguyễn Ngọc Tấn), Võ Trần Nhã, Nguyễn Trọng Oánh, Thanh Giang vv... đã được lãnh đạo sớm bố trí cho đi xuống tiền phương mà đầu tiên là được bám sát bộ tư lệnh mặt trận.

Và, trong chuyến đi này, Nguyễn Thi đã cùng bộ đội chiến đấu như một người lính trên đường Minh Phụng ở nội đô. Bị địch phản kích dữ dội, anh em hy sinh gần hết. Nguyễn Thi bám theo một tiểu đội rút ra vùng ven. Ở đây anh đã cùng tiểu đội đánh trả quyết liệt. Cuối cùng, anh và toàn tiểu đội anh hùng đã hy sinh. Hôm ấy là ngày 9/5/1968.

Thắc mắc rồi cũng thông vì trên liên tục giao và động viên anh chị em sáng tác phục vụ cho chiến dịch. Anh Tư Siêng (nhạc sĩ Lưu Hữu Phước) luôn động viên chúng tôi hãy ra sức sáng tác, viết bài phản ánh kịp thời cuộc ra quân lớn của cả nước.

Có lúc anh Tư Siêng còn bảo tôi viết cả lời theo điệu vọng cổ để phục vụ chiến sĩ, đồng bào. Anh Tư bảo: "Từ Sơn đừng lo viết không được. Cậu cứ lấy một bài vọng cổ chuẩn rồi cứ theo đó mà gieo vần, gieo thanh". Mấy lần tôi đã "nhấp nhổm" định viết thì may quá có tác giả đã chuyển lời thơ bài thơ tôi kể trên thành một bài vọng cổ để phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Giải phóng.

Lúc bấy giờ tất cả sáng tác và bài viết của anh chị em đều mau chóng được chuyển qua hệ thống phát sóng của Thông tấn xã Giải phóng để các báo, đài ở miền Bắc đăng và phát sóng rộng khắp. Tất nhiên các bài vở của anh chị em cũng được kịp thời in vào hai tờ tạp chí của Hội Văn nghệ Giải phóng là tờ Văn nghệ Giải phóng và tờ Sinh hoạt văn nghệ.

Bốn mươi năm đã trôi qua kể từ đêm nổ súng tổng tấn công vào Sài Gòn và các đô thị miền Nam đánh dấu một chặng đường mới trong cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại: giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Chặng đường ấy rộn ràng niềm vui chiến thắng nhưng cũng không ít nỗi đau về những mất mát, hy sinh của bao đồng chí, đồng bào đã hiến máu xương, tuổi trẻ của mình cho độc lập, tự do của toàn dân tộc.

Lần giở lại những trang nhật ký, trang báo cũ đã ố vàng vì thời gian để nhớ lại những tháng ngày Mậu Thân 1968 sôi sục, tôi càng bồi hồi nhớ và tiếc thương các anh, các bạn đã mãi mãi nằm lại trong đất chiến trường xưa.

Hình ảnh từng anh, từng bạn như đang hiện ra trước mắt tôi với bao nụ cười, ánh mắt thân thiết lạ thường. Tôi bỗng sực nhớ lại câu thơ trong "Truyện Kiều" của Nguyễn Du:

Kiều rằng: "Những đấng tài hoa
Thác là thể phách, còn là tinh anh"

Thật đúng như vậy! Bốn mươi năm đã qua... Thân xác các anh, các bạn đã hòa vào đất thiêng của quê hương yêu dấu. Nhưng các anh, các bạn đang ngày ngày trò chuyện cùng chúng tôi - những đồng đội thân thiết - và với nhiều thế hệ Việt Nam bằng những khúc ca, điệu nhạc, lời thơ, lời văn được sáng tạo từ máu lửa của cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại, từ những tâm hồn sáng đẹp, cao cả.

Những cuộc trò chuyện ấy đang từng ngày, từng ngày  tiếp sức cho bao lớp người Việt Nam hôm nay và ngày mai vươn cao, bay xa.

Hà Nội, đầu tháng Giêng 2008

Từ Sơn
.
.
.