Chuyện của người chiến sĩ Công an 60 năm tuổi Đảng
Chỉ với hai câu nói giản dị của Bác: “Chú là công an. Chú không được di chuyển đồng bào đi nơi khác” và “Phải vận động nhân dân hạn chế việc chặt cây”, nhưng ngẫm ra đó lại là bài học về công tác bảo vệ, về công tác giữ gìn bí mật mà đồng chí Lê Việt Tiến thấm thía và nhớ đến bây giờ.
Mùa xuân này, Đại tá Lê Việt Tiến vừa tròn 60 tuổi Đảng. Một buổi sáng ấm áp, tại căn phòng nhỏ trong ngõ hẹp phố Ngọc Khánh, thể theo đề nghị của chúng tôi, ông kể chuyện ngày xưa.
Cậu khoá Bích trở thành chiến sĩ Công an
Ở vùng đất Cần Kiệm, xã Thạch Thất xứ Đoài, cụ Lê Văn Lạn nổi tiếng là người chuộng sự học và có những hoài bão lớn. Thế nên, khi cậu con trai Lê Văn Bích học xong bậc tiểu học ở quê, muốn có tiền cho con trai về Hà Nội tiếp tục việc đèn sách, cụ đã phải bán bớt ruộng vườn. Nhưng mỗi khi cậu khóa Bích từ Hà Nội về thăm nhà, cụ Lạn vừa hỏi chuyện học hành, vừa trò chuyện về thời cuộc với con trai như hai người tri kỷ.
Cho đến bây giờ, Lê Văn Bích không thể nào quên được một câu nói gan ruột của người cha, đúng hơn là một lời gửi gắm của thế hệ trước với thế hệ sau: “Chừng nào nước nhà chưa được độc lập thì dân chỉ là dân cu ly, quan cũng là quan cu ly, mà đến vua cũng là vua cu ly…”. Tinh thần yêu nước, tư tưởng tiến bộ của người cha đã thấm dần vào người con từ những cuộc trò chuyện trong nhà thật tự nhiên, hồn hậu như chuyện cấy lúa trồng khoai. Vì thế khi Cách mạng Tháng Tám bùng nổ, cậu khóa lớp đệ nhị Lê Văn Bích đã nhanh chóng hòa nhập với đoàn người mít tinh tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Bây giờ hồi tưởng lại, vị Đại tá tuổi đã ngoài 80 vẫn hào hứng cho rằng: “Ngày ấy, tôi như được tắm mình trong không khí cách mạng. Tôi tưởng như có lửa đốt trong lòng…”.
Ngọn lửa cách mạng đã nhanh chóng biến cậu khóa Bích thành một người khác. Cậu bỏ học, về quê cầm gậy theo đoàn quân Việt Minh đi cướp chính quyền huyện tỉnh Sơn Tây (cũ). Nhận thấy một thanh niên có học vấn lại nhiệt tình với phong trào thanh niên ở địa phương, mặt trận Việt Minh huyện Tùng Thiện (tên cũ của huyện Ba Vì) đã nhận Lê Văn Bích làm thư ký đánh máy. Một năm sau, Lê Văn Bích được kếp nạp vào Đảng và từ ấy người đảng viên trẻ chính thức bước cuộc chiến đấu đầy gian khổ hiểm nguy với cái tên mới Lê Việt Tiến.
Thực ra, trước khi được Đảng cử sang ngành Công an vào đầu năm 1949, Lê Việt Tiến đã được rèn luyện và thử thách khá lâu trong vùng địch hậu. Ngày ấy, bọn lính viễn chinh Pháp và tay sai liên tục tổ chức các cuộc càn quét đánh chiếm lại một số vùng đất Sơn Tây. Bọn phản động ở xã Trung Nghĩa (nay là xã Sơn Đông, Sơn Tây) cũng ngóc đầu dậy lập tề và vùng đất này trở thành trung tâm Quốc dân đảng. Cơ sở cách mạng và đảng viên ở Trung Nghĩa, một số bị giặc bắt bớ sát hại, một số đành phải “nằm” chờ người của Đảng về.
Đang giữ chức Bí thư Chi bộ Văn phòng huyện Tùng Thiện, Lê Việt Tiến được cấp trên cử về làm Bí thư Chi bộ Trung Nghĩa với nhiệm vụ xây dựng lại phong trào cách mạng nơi đây. Trong vai một nông dân nghèo đi làm mướn, Lê Việt Tiến đã trở thành con nuôi một gia đình vốn là cơ sở cách mạng ở thôn Ngọc Kiên. Ngày qua ngày, anh con nuôi ấy không chỉ chăm chỉ với công việc đồng áng, mà còn động viên từng người, từng nhà vững tin vào cách mạng, ủng hộ kháng chiến.
Chỉ sau một thời gian ngắn, Lê Việt Tiến đã xây dựng được phong trào kháng Pháp ở Trung Nghĩa, củng cố được một Chi bộ Đảng và một tiểu đội du kích hoạt động trong lòng địch. Bây giờ nhớ lại những năm tháng ở Trung Nghĩa, Đại tá Lê Việt Tiến vẫn nhớ như in những lần bị địch vây bắt, sự sống và cái chết chỉ trong gang tấc. Nhận thấy khả năng và kinh nghiệm hoạt động bí mật trong lòng địch của Lê Việt Tiến, cuối năm 1949 cấp trên quyết định điều người bí thư chi bộ trẻ sang ngành Công an.
Cũng như rất nhiều cán bộ chiến sĩ Công an trong những ngày hoạt động trong lòng địch thuở ấy, Lê Việt Tiến mới chỉ có năng khiếu và nhiệt tình cách mạng. Còn để hoàn thành nhiệm vụ mới, Lê Việt Tiến hạ quyết tâm vươn lên bằng con đường tự học. Học từ các tài liệu do cấp trên đưa về, học kinh nghiệm của đồng sự và học kinh nghiệm của quần chúng nhân dân. Từ khi được Đảng cử sang ngành Công an, Lê Việt Tiến đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Chính vì thế, Lê Việt Tiến đã vinh dự được Ty Công an Sơn Tây cử đi dự Đại hội Anh hùng và Chiến sĩ thi đua toàn quốc. Tại Đại hội lịch sử này, Lê Việt Tiến không chỉ được gặp Bác Hồ kính yêu mà còn được Người tặng một bộ quần áo.
Bài học từ những lần đi bảo vệ Bác Hồ
Khi Bộ Chính trị có chủ trương xây dựng một nơi làm việc của Bộ Chính trị thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, Bác có ý kiến: “Phải tìm một nơi nào đó cách Hà Nội không xa, phải có núi có sông, có đường giao thông thuận tiện và phải có đồng bào”. Sau khi đi khảo sát tại một số tỉnh, đồng chí Nguyễn Thế Tùng - lãnh đạo Cục Cảnh vệ thời kỳ ấy trao đổi với lãnh đạo công an tỉnh Sơn Tây (cũ) về chủ trương này. Đồng chí Cao Văn Bắc thay mặt Ban giám đốc Công an tỉnh đã giới thiệu với 3 địa chỉ, nhưng chỉ có một vùng đất hội tụ được các yêu cầu mà Bác gợi ý. Nơi ấy được gọi là công trường 5.--PageBreak--
Cuối mùa xuân năm 1961, Bác lên thăm công trường 5. Đồng chí Lê Việt Tiến với cương vị là Phó giám đốc Công an tỉnh được phân công phụ trách công tác bảo vệ nơi Bác đến. Một buổi sáng mùa xuân năm 1961, cả vùng đồi núi còn chìm trong sương mây, đã thấy xe của Bác để bên đường. Bác và các đồng chí trong đoàn đi bộ lên đồi. Đồng chí Lê Việt Tiến bước ra chào Bác. Bác đi một vòng quanh đồi rồi lên trên đỉnh cao, nơi có mấy hòn đá mọc nhô lên như ngọn chông. Bác bảo mọi người ngồi nghỉ và ăn trưa. Nhìn mọi người Bác chỉ tay về phía Lê Việt Tiến mà nói: “Chú là công an. Chú không được di chuyển đồng bào đi nơi khác nhé”.
Công trường 5 đi vào thi công, Bác lên kiểm tra một đôi lần và đồng chí Lê Việt Tiến lại có dịp gần gũi Bác. Bác dặn lãnh đạo Công an tỉnh Sơn Tây phải vận đồng nhân dân hạn chế việc chặt cây. Chỉ với hai câu nói giản dị của Bác: “Chú là công an. Chú không được di chuyển đồng bào đi nơi khác” và “Phải vận động nhân dân hạn chế việc chặt cây”, nhưng ngẫm ra đó lại là bài học về công tác bảo vệ, về công tác giữ gìn bí mật mà đồng chí Lê Việt Tiến thấm thía và nhớ đến bây giờ.
Trong gần 40 năm được phục vụ trong Lực lượng Công an, Đại tá Lê Việt Tiến có may mắn và vinh dự được gặp Bác nhiều lần nữa.. Mỗi lần được gần Bác, khi ở chùa Tây Phương, khi ở một công trường đắp đê chống lụt, khi ở Trường Sĩ quan lục quân… Từng cử chỉ, từng lời nói của Bác với chiến sĩ, đồng bào nơi Bác đến đều in đậm trong tâm trí của Lê Việt Tiến. Mỗi lời của Bác dặn đều để lại những bài học về công tác an ninh, về công tác vận động quần chúng, bài học về trách nhiệm của người công an với Đảng, với dân.
Cuộc sống đời thường của ông như một tấm gương trong
Có lần chúng tôi hỏi nhạc sĩ Lê Việt Hòa về những tình cảm khiến ông sáng tác khá nhiều ca khúc về lực lượng Công an. Nhạc sĩ trả lời ngay rằng, người công an đầu tiên mà ông ngưỡng mộ chính là Đại tá Lê Việt Tiến. Nhạc sĩ nói thêm, những công việc diệt ác, trừ gian thời chống Pháp, những vụ án to, nhỏ do đại tá chỉ đạo thời là Phó giám đốc Công an tỉnh đã rất đáng khâm phục. Những cuộc sống đời thường của đại tá mới thực sự lay động trái tim của người nghệ sĩ. Tuy nhiên cuộc sống đời thường của Đại tá Lê Việt Tiến được nhiều người quan tâm nhất bắt đầu là từ biến cố xảy ra vào đêm 20 rạng sáng 21/11/1970...
…Sáng sớm 20/11, ấy một đồng chí ở tham mưu Công an tỉnh Hà Tây đến căn phòng của Phó giám đốc Lê Việt Tiến:
- Báo cáo anh, trên Công an Sơn Tây điện xuống, đêm qua địch bắn phá ở quanh khu vực thị xã. Mời anh lên trên ấy gấp.
Linh tính mách bảo, cuộc không kích của giặc Mỹ đêm qua chắc còn liên quan đến gia đình ông. Xe đến Sơn Tây, đồng chí Công an thị xã lại thông báo tiếp: “Đêm qua, địch dùng rất nhiều máy bay quần đảo rồi đổ quân xuống Xã Tắc hòng giải cứu tù binh”. Xã Tắc vốn là trại giam của Ty Công an Sơn Tây (cũ). Trại giam ấy cũng từng là nơi giam giữ hơn 200 giặc lái Mỹ từ Hỏa Lò chuyển lên. Trước đó 3 tháng, bọn giặc lái này đã bị chuyển đi nơi khác. Vậy là không quân Mỹ đã không đạt được mục tiêu giải cứu đồng bọn. Nhưng cạnh Xã Tắc đang có một số gia đình của cán bộ, chiến sĩ công an, trong đó vợ con ông đang sống.
Chỉ nửa giờ sau, về đến nhà ông mới biết người vợ của ông, bà Nguyễn Thị Bích An và đứa con gái thứ ba, cháu Lê Thu Hương đã bị bọn bọn giặc Mỹ sát hại. Hai cháu Lê Thu Nga (15 tuổi) và cháu Lê Việt Tuân (9 tuổi) cũng bị bọn biệt kích Mỹ bắn trọng thương, đang được cấp cứu ở Quân y viện 5. Không chỉ gia đình ông, đêm ấy, bọn giặc Mỹ còn điên cuồng đột nhập vào một số căn hộ bộ đội, cướp đi sự sống của 11 người khác nữa.
Trong những giây phút tột cùng đau thương, ông thầm hứa với người vợ mà ông nhất mực thương yêu rằng sẽ gánh vác trách nhiệm của người mẹ nuôi dạy những đứa con còn lại. Chỉ là lời hứa thầm thôi mà suốt 36 năm qua ông đã giữ trọn. Những người con do ông dạy bảo nay đã trưởng thành, có người đã trở thành tướng lĩnh trong Lực lượng Công an, có người trở thành giám đốc doanh nghiệp.
Nhạc sĩ Lê Việt Hòa tâm sự rằng, công việc sáng tác ca khúc của người nghệ sĩ trước hết phải tìm được cái đẹp trong đời sống thường nhật, để rồi dùng giai điệu và lời ca để chắp cánh cho cái đẹp đó ngân rung. Để tìm nét đẹp của người chiến sĩ Công an, ông đã lặng lẽ quan sát hình ảnh cuộc sống riêng tư của Đại tá Lê Việt Tiến mấy chục năm trời. Đó là một tấm gương trong, một tấm gương đẹp. Rồi từ Đại tá Lê Việt Tiến, nhạc sĩ thâm nhập vào Lực lượng Công an và tìm hiểu thêm bao tấm gương mới. Những tấm gương vì nước quên thân vì dân phục vụ đã thôi thúc ông viết hết ca khúc này đến ca khúc khác
